Trí thức Việt Nam – Nền tảng lịch sử và các vấn đề đặt ra

Nguồn :http://www.baomoi.com/Phan-2-Tri-thuc-Viet-Nam–Nen-tang-lich-su-va-cac-van-de-dat-ra/122/7107399.epi

Nhiều học giả cho rằng, nếu căn cứ vào nghĩa gốc của khái niệm trí thức, tức là sử dụng các tiêu chuẩn của bối cảnh chính trị – văn hóa phương Tây để nhìn vào điều kiện Việt Nam thì có thể nói rằng: trong lịch sử, ngoại trừ giai đoạn 1900 – 1945, Việt Nam chưa bao giờ có một tầng lớp trí thức đích thực. Vì thế, cái gọi là giới trí thức tinh hoa lại càng trở nên không tưởng.

Thực ra, trả lời câu hỏi có hay không một tầng lớp trí thức trong xã hội Việt Nam truyền thống là điều không đơn giản. Từ lí thuyết đến thực tiễn luôn tồn tại một khoảng cách, và nội dung thực tiễn luôn có khuynh hướng tràn ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của lí thuyết trừu tượng. Thay vì tham gia vào cuộc tranh luận phức tạp nói trên, chúng tôi tạm chấp nhận giả định rằng: đã có một tầng lớp trí thức Việt Nam trong lịch sử, từ đó cố gắng nhận diện gương mặt, bối cảnh hình thành và đặc điểm của họ. Nhưng đó chưa phải là trọng tâm của vấn đề. Điều quan trọng là từ những dữ kiện thực tế, bài viết này sẽ cố gắng đi đến một số gợi mở về các điều kiện để hình thành một đội ngũ trí thức đích thực trong bối cảnh mới của đất nước.

Theo PGS.TS Trần Ngọc Vương, trong lịch sử trung đại Việt Nam, mẫu hình trí thức tồn tại lâu dài nhất, có tác động lớn nhất đến đời sống tinh thần xã hội là nhà Nho [1]. Đến thời Pháp thuộc (cuối XIX – nửa đầu XX), hệ thống giáo dục thuộc địa lại cho ra đời một loại hình trí thức mới, song hành và nối tiếp loại hình trí thức Nho học trước đó, mà sách vở vẫn quen gọi là trí thức Tây học.

Từ góc nhìn lịch đại, nhiều người vẫn xem lớp trí thức Tây học nửa đầu thế kỉ XX là thế hệ vàng trong lịch sử văn hóa Việt Nam. GS Hoàng Tụy nhận định: “Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức Việt Nam qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách, thế hệ trí thức những năm 30-45 thế kỷ trước” [2]. Tuy nhiên, sau 1945, những thành tựu của nền giáo dục thuộc địa đã không được kế thừa và phát triển. Lớp trí thức Tây học, do đó, chỉ hiện diện ngắn ngủi trên vũ đài lịch sử như một sản phẩm của cuộc tiếp xúc Đông – Tây trong buổi giao thời giữa hai thế kỉ XIX – XX. Vì vậy, khi nói đến trí thức Việt Nam truyền thống, chúng tôi chủ yếu đề cập đến loại hình trí thức nhà Nho.

Trí thức nhà Nho Việt Nam hình thành và phát triển trong một môi trường xã hội Nho giáo – tiểu nông, với một số biểu hiện mang tính đặc thù:

• Về chính trị: Các triều đại phong kiến thay nhau xây dựng và hoàn thiện dần mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế bằng cách áp lên toàn quốc một bộ máy cai trị quan liêu theo thể thức cha truyền con nối. Nhà Vua đứng đầu bộ máy nhà nước, có quyền lực tuyệt đối trong tay nhờ sở hữu cả thế quyền lẫn thần quyền.

• Về kinh tế: Nền nông nghiệp trồng lúa nước là sinh kế cơ bản của quốc gia. Thủ công nghiệp và thương nghiệp chỉ mang tính phụ trợ. Vì vậy, trong cơ cấu xã hội, người tiểu nông và nhà Nho trở thành rường cột của nước nhà. Trong khi, giới thương nhân và thợ thủ công không đủ sức vươn lên thành những lực lượng xã hội thuần thục, bị dạt ra khỏi dòng phát triển chủ lưu của cộng đồng.

• Về tư tưởng, từ thế kỉ XIV trở về sau, Nho giáo dần trở thành quốc giáo, chi phối mọi mặt đời sống tư tưởng dân tộc, đặc biệt là trong thời Lê sơ và thời Nguyễn. Từ chỗ là công cụ đắc dụng góp phần tổ chức bộ máy nhà nước và ổn định xã hội trong thời kì đầu, về sau, Nho giáo bị chính trị hóa triệt để, chỉ còn trơ lại là một công cụ cai trị của nhà nước chuyên chế. Với sự độc tôn, áp chế tuyệt đối của Nho giáo, tình trạng đa nguyên về văn hóa thời Lí – Trần chấm dứt. Từ đây, đời sống sinh hoạt tư tưởng ngày một đơn điệu, sức sáng tạo của cộng đồng hao mòn, nội lực dân tộc suy yếu và trở thành nạn nhân trực tiếp của chủ nghĩa tư bản phương Tây.

• Về giáo dục, từ thời Lê sơ, chế độ thi cử Nho giáo được xem là mô hình mẫu mực, duy nhất trong đào tạo và tuyển chọn đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước. Sứ mệnh tối hậu của hệ thống giáo dục Nho học là đào tạo nên những thần dân biết chấp nhận hệ thống cai trị đương tồn một cách vô điều kiện. Trong khi đó, lí tưởng cao đẹp nhất của người đi học là thi đỗ, làm quan – tức hóa thân thành một phần tử trong hệ thống nhà nước và ra sức bảo vệ cho sự tồn tại của hệ thống đó.

Tiếp trang 2.

Advertisements

One thought on “Trí thức Việt Nam – Nền tảng lịch sử và các vấn đề đặt ra

٭٭٭٭٭ Speak Your Mind ◄► Share To Me ٭٭٭٭٭

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s