16 nhu cầu cơ bản của con người.

// Tại sao mình chia sẻ lại bài viết này… Những nhu cầu này, nói cách khác, chúng là những động lực, những nguyên nhân mà một ai đó sẽ làm cái này hoặc làm cái kia, hay không làm điều gì đó. Và đồng thời, chúng là mục đích của con người ta. Và lẽ dĩ nhiên, là từ đây, chúng là những điều kiện để một người này khác biệt với kẻ khác ra sao.

Thanks

p/s: Vậy nhu cầu của mình ở đây là gì. =))

//

 

16 nhu cầu cơ bản của con người.

Tài liệu tham khảo : “The Normal Personality- A NEW WAY OF THINKING ABOUT PEOPLE” của Steven Reiss

Tất cả mọi người đều có 16 nhu cầu cơ bản nhưng được họ ưu tiên theo cách khác nhau. Cách mà mỗi cá nhân ưu tiên thỏa mãn nhu cầu được gọi là một Reiss Motivation Profile (RMP),nó tiết lộ về những giá trị ( values ) của người đó.

Nguồn ảnh: pentv.tv

5 đặc điểm của 1 nhu cầu cơ bản :

1. Động cơ phổ quát (UNIVERSAL MOTIVATION). Những nhu cầu cơ bản thúc đẩy mọi người hành động.

2. Những nhu cầu tâm lý (PSYCHOLOGICAL NEEDS ). Sự thỏa mãn 1 nhu cầu cơ bản luôn luôn mang tính tạm thời- nhiều giờ hoặc nhiều ngày sau khi thỏa mãn được 1 mục tiêu thì nhu cầu cơ bản của con người lại được xác lập lại và nó ảnh hường đến hành vi một lần nữa. Ví dụ, khi chúng ta thỏa mãn nhu cầu tò mò về 1 chủ đề, lĩnh vực nào đó, sớm hay muộn gì chúng ta cũng trở nên tò mò về những chủ đề khác.

Tại sao những nhu cầu cơ bản lại tự xác lập lại sau khi chúng ta đã thỏa mãn chúng?

Bởi vì những nhu cầu cơ bản thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những trải nghiệm thỏa mãn ở 1 mức độ nhất định. Ví dụ, nhu cầu ăn uống thúc đẩy chúng ta tiêu thụ khoảng 2500 calo mỗi ngày. Khi bạn ăn ít hơn số calo trong 1 ngày, bạn sẽ đói. Khi bạn ăn nhiều hơn, bạn sẽ thấy nặng nề. Khi bạn ăn đủ lượng thức ăn , bạn sẽ cảm thấy thỏa mãn. Sự thỏa mãn của bạn chỉ là tạm thời.

3. Động cơ nội tại (INTRINSIC MOTIVATION ). People pursue basic desires for no reason other than that is what they want. Ví dụ, nhu cầu ngăn nắp gọn gàng thúc đẩy chúng ta tổ chức, sắp xếp cuộc sống của mình bởi vì chúng ta đánh giá cao tính trật tự, có kế hoạch ; trong khi đó nhu cầu muốn được người khác chấp nhận thúc đẩy chúng ta tránh né bị phê bình chỉ trích bởi vì chúng ta đánh giá cao sự chấp nhận.

Những nhu cầu khác nhau có thể là động cơ thúc đẩy hành vi giống nhau. Ví dụ , khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc vì chúng ta đề cao tính trật tự, chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu ngăn nắp. Khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc để tránh bị người quản lý phê bình thì chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu muốn được người khác chấp nhận. Khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc vì cả 2 lý do trên, chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu ngăn nắp và muốn được chấp nhận.

4. Những giá trị nội tại (INTRINSIC VALUES) . We are a species motivated to assert our values.

5. PSYCHOLOGICAL SIGNIFICANCE

Sau đây là 16 nhu cầu cơ bản:

1. Acceptance, the desire to avoid criticism and rejection: Nhu cầu chấp nhận : muốn tránh không bị phê bình và chối bỏ.

2. Curiosity, the desire for cognition: Nhu cầu tò mò : khát khao về mặt nhận thức.

3. Eating, the desire for food: Nhu cầu ăn uống : khát khao với thức ăn

4. Family, the desire to raise one’s own children: Nhu cầu gia đình : nuôi dạy con cái.

5. Honor, the desire to behave morally: Nhu cầu tự trọng : muốn hành xử theo đạo đức.

6. Idealism, the desire for social justice: Nhu cầu công bằng : khát khao về sự công bằng xã hội

7. Independence, the desire for self-reliance: Nhu cầu độc lập

8. Order, the desire for structure: Nhu cầu trật tự

9. Physical Activity, the desire to move one’s muscles: Nhu cầu vận động cơ thể

10. Power, the desire for influence of will: Nhu cầu quyền lực, khát khao ảnh hưởng đến mọi người

11. Romance, the desire for sex: Nhu cầu tình dục

12. Saving, the desire to collect: Nhu cầu tiết kiệm, tích lũy

13. Social Contact, the desire for friendship: Nhu cầu kết nối xã hội, bạn bè

14. Status, the desire for prestige: Nhu cầu địa vị xã hội, khát khao danh tiếng

15. Tranquility, the desire for inner peace: Nhu cầu bình an nội tâm

16. Vengeance, the desire to get even: Nhu cầu trả thù

Cường độ nhu cầu mạnh : chỉ về nhu cầu của người đó mạnh hơn những người bình thường ( trên 20% khi so sánh với dân số nói chung) . Người đó sẽ phát triển những nét tính cách, hoặc những thói quen để thỏa mãn nhu cầu được lặp đi lặp lại. Ví dụ, 1 người có nhu cầu suy nghĩ cao (a high-intensity need to think) sẽ dành nhiều thời gian cho hoạt động trí tuệ , người ấy sẽ bộc lộ những tính cách của người trí thức, học giả.

Cường độ nhu cầu yếu : Chỉ về nhu cầu của người đó yếu hơn, thấp hơn so với những người bình thường ( thấp hơn 20% khi so sánh với dân số nói chung). Người đó sẽ phát triển những nét tính cách, hoặc những thói quen để thỏa mãn nhu cầu được lặp đi lặp lại. Ví dụ, 1 người có nhu cầu suy nghĩ thấp (A person with a low-intensity need to think) sẽ dành ít thời gian cho hoạt động trí tuệ và người đó sẽ bộc lộ những tính cách của 1 người thiên về thực hành, thiên về hành động (traits of a practical, action-oriented).

Cường độ nhu cầu trung bình – bao gồm 60% dân số. Những nhu cầu đó được thỏa mãn hằng ngày và không yêu cầu phát triển những thói quen riêng biệt hoặc những nét tính cách để thỏa mãn những nhu cầu đó.Người có cường độ nhu cầu trung bình thỉnh thoảng sẽ bộc lộ những tính cách gắn liền với cường độ nhu cầu mạnh và thỉnh thoảng lại bộc lộ những tính cách gắn liền với cường độ nhu cầu thấp.
Đón đọc trang 2 nhé.

My Dream…

Lời Tòa Soạn: Trong một sự tình cờ, chúng tôi khám phá ra được một tài năng sớm chớm nở. Cháu Henry Nguyễn mới học lớp 7 nhưng Toán Học và Anh Ngữ đã vượt trội cả các em lớp trung học phổ thông (đệ nhị cấp). Thầy Đồ Hoàng chấp nhận em vào học lớp Đặc Biệt Cuối Tuần, hi vọng sẽ bù đắp thêm cho em về các mặt Toán, Ngoại Ngữ và Khoa Học để em vào được những đại học lớn của Hoa Kỳ và đạt những sở nguyện.

Bài em viết dưới đây trong hơn một giờ đồng hồ đã nói lên khả năng khác thường về lý luận và Anh ngữ của em. Bài đăng nguyên văn, không sửa chữa hay thêm bớt. Xin gởi đến các em học sinh cùng lứa tuổi trong và ngoài nước những tâm tình chân thật và sâu sắc của một bạn trẻ Việt Nam hiện đang sinh sống tại bang California.

Thầy Đồ Hoàng

dream

 

My Dream

Henry Nguyen

 

Since I have learned of the existence of space, I often took the time to look out of the window, and gaze at the magnificence of the stars. These stars have symbolized hope for me, and are just amazing to observe. On Earth, we have discovered many things not known before, and now we even have the technology to explore even past this, and into the outer reaches of space. I can try to study the universe, but without the job of an astronomer, I would never, really have the tools to learn anything. Throughout my life, I have learned that the sky is not the limit, but how far I am willing to travel is. This is the 21st century, and there are many openings, I can take.

 

There are many reasons for me to want to become an astronomer, and my intentions are clear. First of all, I just want to learn about what is out there. I have not been such an explorer now, but that is because there is nothing to learn on the ground we know. I believe that we must look further before any of us can discover new and amazing things. When I was young, I read any book about the universe that I could. All these things were fascinating, but none could really pierce my mind, and tell me what I wanted to learn. With the choice of becoming an astronomer, I could finally learn what I wished to know, and continue to learn throughout my life time.

 

Next, I know that humans are just curious, and want to explore. People from all over the world come to work, and discover what is to be found. This is something I want to be part of. When people are working together to learn, it is a time of peace, away from all the fighting and wars taking place on out planet. By trying to explore the universe, we, as humans can experience something great and have a purpose. I can try to be anything else, but nearly all things have no reason. I could become a doctor, but what is the purpose of that? Someone could make money and save lives, but even more people are lost in war. The only thing that I have seen, that could possibly lead to peace, is by working as one, all the countries exploring the universe. We had the great space race, between the U.S. and the Soviet Union, but that lead to nothing, but conflict. If we could issue peace to work on a large scale project, we could do that to give peace to the world. This is one thing, I consider great, not making money, but doing something with a purpose.

 

Lastly, it is just my dream. I have no other interests, as great as this one, and it is an amazing thing to do. I know that the astronomers before me enjoyed their work, and like me, they saw a purpose. Nothing else could give me such a chance, as being an astronomer. The world is a different place now, and I just want to be a part of something, that could help the people of this planet. The information I could learn, would be passed down, and the future of our race, can finally exit the fog. For millennia, our race has pursued worthless things, but by working as one, and showing what humans can really do, will help everyone.

 

So, in conclusion, I want to be an astronomer, for it gives me a chance. A chance to explore, a chance to restore peace, and have a purpose. For years, I have gazed at the stars, and if I can have the opportunity to become an astronomer, I will take it, to continue what I have always done. Exploring the world outside of our atmosphere, sounds appealing to me, and I would wish to learn what nature has created, away from our planet. This may only be a dream, but one that can be a reality.

Nguồn:

http://www.giohocduong.vn/giao-luu/topic-sinh-vien/692-essay-henry.html

Nguyễn Hoàng Đức – Người trí thức dấn thân.

Nguyễn Hoàng Đức- người trí thức dấn thân 

   Phùng Văn Khai

nguyenhoangduc

   Tôi biết tới Nguyễn Hoàng Đức thông qua văn bản khi anh viết loạt bài phê bình văn phẩm Nguyễn Huy Thiệp trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc vào cuối thế kỷ trước, khi mọi người đang ồn ào về Nguyễn Huy Thiệp. Khi ấy tôi rất có cảm tình với cách phê bình rốt ráo có phần cực đoan nhưng được phân tích trên cơ sở khoa học bằng văn bản đã viết ra của tác giả. Từ đó tôi luôn để ý đọc anh. Nhiều bài rất thích thú ở thể loại phê bình văn học như Sáng tạo mỹ học từ cái nhìn đơn giản; Thực trạng thơ Việt Nam; Lý trí trên ngai vàng sáng tạo; Hình thức và nội dung sáng tạo; Không thẩm định thì không sáng tạo; Tìm cái mới trong khả năng sáng tạo của nhà văn; Kịch tính trên đỉnh đầu sáng tạo; Hậu hiện đại sống ngoài tác phẩm; Khoa học và nghệ thuật trong sáng tạo; Tại sao chúng ta có nền phê bình yếu… Các bài bàn về văn hóa, triết học sâu sắc và độc đáo như: Văn hóa: Cái nhìn từ nền tảng; Văn hóa giữa dòng hội nhập; Văn minh: Cái nhìn từ nền tảng; Thượng đế là ai?; Bi kịch con người; Bản ngã, tâm linh – thể xác, tự do, tha nhân; Kịch tính giữa dục vọng và lý tưởng; Những kịch tính tột đỉnh hào quang; Quỹ đạo chân thiện mỹ ở đời… Hàng loạt những bài khác nữa bàn về tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc gia đình đã đưa Nguyễn Hoàng Đức trở thành một thương hiệu báo chí có trọng lượng, nhưng cũng thú thật tôi không ưa thích những bài báo cũng như những ý kiến của anh về các vấn đề khác ngoài triết học và phê bình văn học, nên trong tâm thức và phác thảo của tôi về Nguyễn Hoàng Đức xin được chỉ đi sâu về hai mảng mà anh đã xác lập được với cá nhân tôi.

   Tại sao tôi cho rằng Nguyễn Hoàng Đức là một trí  thức dấn thân trong khi ở ta có không nhiều những con người như vậy. Về một phía nào đó, không hiểu tại sao ở ta một Nguyễn Hoàng Đức chưa được biết đến nhiều thậm chí chỉ được biết đến như một người kỳ cục, một anh hề triết học, một Đông-ki-sốt văn chương cưỡi con ngựa văn hóa duy lý của phương Tây đi giữa cuộc đời (Đỗ Minh Tuấn); Nguyễn Hoàng Đức đã vô nghĩa hóa toàn bộ văn học Việt Nam đương đại (Hòa Vang); Nguyễn Hoàng Đức đã dấn thân và cô đơn trên con đường lý trí để thực hiện sứ mệnh của bản thân mình cho chân lý sáng tạo văn học nghệ thuật (Lương Tử Đức); Cái gì Nguyễn Hoàng Đức cũng lấy thước đo của lý luận, của triết học để phán xét. Ông sáng tác cũng theo các tiêu chuẩn của triết học (Nguyễn Quang Thiều)… Một người Việt ở nước ngoài còn trân trọng Nguyễn Hoàng Đức mà theo tôi là không có gì tô vẽ còn rất chân xác: “Tôi đã từng bị tác phẩm “ý hướng tính văn chương” của anh Đức hấp dẫn từ lâu. Sau đó tôi mua tiếp tác phẩm “Cô đơn Con người – Cô đơn Thi sĩ” của anh và đọc ngấu nghiến! Anh Đức là một người Việt hiếm có. Anh làm tôi nhớ đến triết gia Trần Đức Thảo – một triết gia thực thụ được thế giới công nhận. Tôi có viết lách đôi chút, nhưng khi nhìn sang anh Đức thì mới thấy được năng lực sáng tác của anh mới thật sự khổng lồ – chắc chắn đó là món quà vô giá của Chúa gửi vào anh! Tôi ước mong sao được gặp anh để nghe anh tâm sự về tri thức, về sự dấn thân văn chương và triết lý và tìm hiểu về năng lực sáng tạo bí ẩn của anh! Quan trọng nhất của một người trí thức là tính trung thực và thái độ dấn thân hết mình vì chân lý. Anh Đức hoàn toàn có được những phẩm chất đáng quý ấy! Chúng ta hãy tiếp nhận những tác phẩm của anh với thái độ trân trọng và đối thoại trên cơ sở nhân văn chung. (Đinh Gia Hưng).

   *

   *     *

   Từ  nhiều nguồn thông tin khác nhau cộng với chiêm nghiệm của chính bản thân mình, cá nhân tôi cho rằng Nguyễn Hoàng Đức chính là một trí thức dấn thân, bản thân anh cũng luôn ý thức rõ ràng điều này mà biểu hiện rõ nhất từ những tác phẩm của mình trên nhiều thể loại: Chuyên luận triết học, Chuyên luận thần học, Phê bình văn học, Tiểu luận tình yêu, Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Trường ca, Thơ… Ước vọng của Nguyễn Hoàng Đức là một ước vọng chính đáng khi muốn mình trở thành một nhà văn có căn bản triết học, có tư tưởng, từ đó anh đã thực sự dấn thân. Nguyễn Hoàng Đức có quan điểm sáng tác rất rõ ràng: Viết văn trước hết phải giống làm nghề chuyên môn để đưa ra sản phẩm chuyên nghiệp. Đó là tiêu chí tối thiểu khi cầm bút. Nhưng viết văn là nghề đặc biệt, nghề mở đường hay cứu rỗi, hoặc khiêm tốn hơn là “trợ lực” cho các tâm hồn, đơn giản vì xã hội không có ngành dịch vụ nào thay thế được văn chương để trợ lực tâm hồn… đã cho thấy sự rõ ràng minh bạch trong quan điểm sáng tác của Nguyễn Hoàng Đức trong hành trình dấn thân của mình.

   Rất khó định nghĩa thế nào là một người trí  thức, đặc biệt là một người trí thức dấn thân càng khó khăn. Vấn đề không phải là  anh ta đưa ra những thua thiệt cá nhân, những đối lập về tư tưởng mà vấn đề là anh đã làm gì, chủ yếu bằng những trăn trở và phản biện của anh, trong những nguyên tắc và học thức của anh, từ sự nhất quán đến toàn bộ hành động của cuộc đời anh, dự đoán tiếp, bảo vệ đến cùng những cái mới mẻ tiến bộ của thế giới loài người mà không thể vì bất cứ lý do gì đi ngược lại cái nền móng mà mình đã đặt ra. Người trí thức dấn thân còn phải có đạo đức của trách nhiệm, của niềm tin, ngay cả khi trách nhiệm và niềm tin đó trong cộng đồng anh ta đang sống là thiểu số. Biết lựa chọn đứng về sự im lặng hoặc bản thân hoàn toàn im lặng khi thấy đó là cần thiết nhưng cũng sẵn sàng đi đến cùng, hành động đến cùng vì chính niềm tin và trách nhiệm mà mình đã xác lập. Người trí thức dấn thân phải là người hành động vì lương tâm vì chỉ có lương tâm thời đại mới nâng con người cao hơn chính bản thân mình. Chỉ có lương tâm thời đại mới mạnh hơn sự tăm tối dốt nát.

Tôi  đã rất phân vân khi xếp Nguyễn Hoàng Đức như là  một trí thức dấn thân không bởi bản thân anh đã dành gần như toàn bộ cuộc đời mình cho chữ nghĩa một cách đầy ý thức, cũng không phải những gì anh nhận được từ chữ nghĩa dường như chưa tương xứng với  sức lao động của anh, mà là, thật đơn giản, lương tâm tôi đã chỉ bảo cách sắp xếp trên là phù hợp. Chúng ta vẫn biết về cơ bản, chức năng chính của người trí thức là suy nghĩ chứ không phải hành động. Họ phải băn khoăn, lo lắng, day dứt, đặt lại mọi vấn đề để tự đi tìm lấy tư tưởng của mình. Điều đó có thế gây phiền toái, đi ngược lại đường hướng cũng như lợi ích của một số người, rất nhiều người, thậm chí xã hội mà anh ta đang sống. Bản thân người trí thức luôn mâu thuẫn với xung quanh và tự mâu thuẫn với chính mình và chỉ như vậy anh ta mới cảm thấy yên ổn hơn trong chính những mâu thuẫn suốt đời phải đương đầu. Trí thức dấn thân luôn muốn đánh thức một ai đó, một xã hội nào đó, một vấn đề nào đó, bất kể điều đó là gì, có phương hại gì đến anh ta hay không. Đó cũng là một chức năng của trí thức. Ví dụ như bàn về hai chữ tự do, Nguyễn Hoàng Đức cho rằng: Tự do không chỉ là vật liệu thiết yếu mở màn xây nên mọi giá trị của con người mà tự do còn là một báu vật đạt tới mọi tầm cao của giá trị nhân loại. Hình ảnh tự do là chìa khóa, thật là đích đáng, bởi vì không có tự do con người khác chi con chim bị nhốt trong lồng, con thú bị nhốt trong chuồng, và tự do bắt đầu là chìa khóa mở cửa cho người ta bước khỏi nơi giam cầm đó, nó giống như chìa khóa của viên cai ngục tra vào ổ khóa của nhà tù, được trả tự do. Khi con chim bị giam trong lồng, cổ họng nó nghẹt thở sự sợ hãi thì làm sao có thế cất tiếng hót!

   Đó phải là suy nghĩ của một người trân trọng tự do và chân lý. Đó phải là suy nghĩ của người trí thức.

 Tiếp trang 2.

Nhân quyền, Dân chủ và Tự do (Phần 1)

Nhân quyền, Dân chủ và Tự do (Phần 1).

Chúng ta là con người. Chúng ta giúp đỡ nhau, tôn trọng nhau, yêu thuơng nhau.

Và hãy cụ thể bằng những hành động.

Những hành động thường ngày, những hành động ở nhà, công sở…

LỜI PHẬT DẠY

LỜI PHẬT DẠY.

LỜI PHẬT DẠY VỀ THỜI GIAN – NGHIỆP BÁO
Khi con chim còn sống, nó ăn kiến.
Khi chim chết, kiến ăn nó.
Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào,
Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này.
Bạn có thế đầy quyền lực ngày hôm nay,
Nhưng đừng quên rằng,
Thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn.
… …

Bạn có thể kiểm soát được những gì? Bạn đã kiểm soát cái gì? Và tại sao? 😉

Thanks Trâm thân mến.

Cuộc Đời Đáng Sống

Nguồn: http://muoianhsang.com/cuoc-doi-dang-song/

680008031_9108be7d59_o

Nhìn những cụ già bước đi xin lòng thương xót của mọi người qua đường, nhìn những người vô gia cư ngủ vất vưởng bên hè phố trong cái nóng ban ngày  và cơn mưa rào ban đêm, nhìn những em bé vừa lọt lòng đã phải trở thành dụng cụ để cha mẹ chúng xin ăn, nhìn những cảnh đời giết chóc, chứng kiến những cái chết do tự vẫn, cái chết bất ngờ do tai nạn, thiên tai, nhìn thấy những người bị dị tật bẩm sinh sống quanh mình (bại não, khiếm thính, khiếm thị, mất một phần cơ thể….), đọc được những thống kê đáng buồn về tình hình phát triển kinh tế thế giới và trong nước… ta suỹ nghĩ, cảm nghiệm, và học được gì cho cuộc đời mình? Ta có cảm thấy mình thật may mắn, thật hạnh phúc biết bao vì còn lành lạnh, khoẻ mạnh, bình an vô sự, và còn đang được nếm trải cái hương vị của cuộc sống không? Hay ta lại thấy mình đáng thương, đáng tội nghiệp, và thấy đời không còn một chút lý do gì để mà sống?

Với tỷ lệ người tự vẫn trên thế giới ngày một gia tăng, nạn đâm chém xảy ra đó đây trên thế giới cách vô tội vạ, cảnh người người vật vã sống qua ngày đoạn tháng tràn lan trên khắp mặt địa cầu, ta cũng có thể thấy con người ngày càng cảm thấy cuộc sống thật vô nghĩa, vô lý, và vô vọng. Quả thật, nếu cứ theo nghĩa bình thường mà xét thì cuộc sống thật nhàm chán, chẳng có gì hay ho và thú vị hết, cả cuộc đời cứ luẩn quẩn với chuyện cơm – áo – gạo – tiền – tiệc tùng – hội hè – yêu nhau – sinh con – đi học – đi làm…. thật không có một sự gì khiến ta vui mãi và hạnh phúc mãi, trái lại toàn những chuyện không đâu xảy đến để rồi vui chưa kịp ngấm thì nỗi buồn và sự muộn phiền đã đến. Thế nhưng, đó không phải là bản chất thật của cuộc sống và cũng không phải là điều mà con người tự do của chúng ta phải đón nhận như một định mệnh chán chường của phận người, cuộc sống của mỗi người chúng ta có một ý nghĩa khác trổi vượt và cao vời hơn tất cả những thứ tầm thường ở đời mà ta đang bám víu tạm bợ vào đó để rồi chán nản thất vọng.

Chúng ta đều biết mỗi người đều được tạo dựng và sinh ra bởi Tình Yêu. Thế nên, cuộc sống của ta chỉ có ý nghĩa thật sự khi chúng ta sống trong bầu khí yêu thương và biết thông ban tình yêu của mình cho mọi người. Hãy thử hình dung nếu mỗi sớm mai thức giấc, mở cánh cửa phòng ra ta thấy những tia nắng tình yêu lập tực đổ vào phòng, những tiếng chim hoan ca, những bông hoa đua nở, tiếng người người gọi nhau bằng ngôn ngữ của tình yêu, mọi người thân yêu trong gia đình ta cũng mỉm cười chào chúc nhau bằng tiếng nói của tình yêu, khi đến trường lớp thầy cô và bạn hữu cũng biết yêu ta như thể ta là người thân thiết của họ, đến cơ quan ta gặp thấy ai cũng nở nụ cười tươi đón chào ta…. thì ta có thấy đời đáng sống không? Thử hỏi có ai lại điên dại tự vẫn để mau mau ra khỏi cái thế giới tình yêu này không?

Nếu như trong cuộc sống kể từ thuở ấu thơ ta luôn được nâng đỡ và trợ giúp bởi những người lớn tràn ngập tình yêu thì cuộc sống của ta sẽ khác rất nhiều. Đằng này ta lại toàn nếm phải trái đắng trong cuộc sống mỗi ngày bởi cái yếu đuối thể xác của những người lớn trong gia đình ta và ngoài xã hội: quát mắng, dọa nạt, khi chê, xỉ vả, phạt vạ, trù dập, đòn roi, bỏ đói, bỏ rơi, bạo lực, thiên vị… tất cả đều gợi cho ta cái cảm tưởng rằng đời này quá khắc nghiệt, và như thế lập tức bằng khả năng được trang bị sẵn để ta thay vì dùng để thông ban và yêu thương, thì giờ ta đề phòng,  xây dựng rào chắn bảo vệ chiến hào, ta chủ động tấn công người khác và tấn công chính mình, ta cảm thấy đời chẳng đáng sống nhưng phải sống cho qua để còn có cơ hội để hành hạ, vật vã, cô lập, và làm tất cả những điều ta được nếm trải từ thuở ấu thơ lên trên người khác, và điều này trong ngành tâm lý học miền sâu gọi là “Sự Phóng Chiếu – Projection”.

Theo đó, ta sẽ dễ dàng có xu hướng phóng chiếu tình cảm và hoàn cảnh của mình sang một người khác tốt xấu tùy theo mức độ mà đời sống của ta được đón nhận. Nếu ta được sinh ra và lớn lên trong một môi trường toàn sự dịu ngọt, tình yêu, và niềm vui thì khi lớn lên ta sẽ phóng chiếu nó ra cho người đối diện bằng cách ta cũng nghĩ họ giống ta, và ngược lại nếu ta sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh khá bất hạnh và toàn những điều xấu bao quanh, ta sẽ phóng chiếu nó sang người đối diện bằng việc nghĩ họ cũng giống ta, thậm chí ta sẽ đối xử với họ cách gian dối, tàn bạo, lạnh lùng, và bất hảo như ta đã từng bị bởi cuộc sống của mình. Bởi đó, nếu tất cả mọi người trên thế giới đều được sinh ra và lớn lên trong tình yêu, niềm vui, trung thực, hòa khí, trong sạch, cầu tiến, rộng lượng, tiết độ, hỗ tương….thì hẳn thế giới đã chẳng có chuyện vì gian tham mà đi đánh chiếm, chẳng có chuyện giàu nghèo, chẳng có chuyện ly hôn, giết chóc, tự vẫn, lọc lừa, chơi xấu, bệnh tật, và đói khổ. Tất cả sẽ được bao bọc bằng một bầu khí quyển của tình yêu và niềm vui, mà nếu thế thì dù cuộc sống có chút khó khăn ta vẫn cảm thấy mình không đơn độc và bị bỏ rơi.

Vậy với bối cảnh xung quanh toàn những chuyện ngột ngạt và chán phèo, cuộc đời của ta có gì để gọi là đáng sống? Cuộc đời của tôi và của bạn đều đáng sống và sống tròn đầy là bởi vì những điều sau đây:

Đọc tiếp trang 2 nhé:

Tình bạn, mối quan hệ và lòng nhân từ

Tình bạn, mối quan hệ và lòng nhân từ
Trích từ cuốn “ Snow in the summer “ tác giả thiền sư Sayadaw U Jotika
Việt dịch : Hằng Nguyễn
296734_293628263981777_1446990922_n
Chìa khóa để mở ngỏ tâm hồn mọi người là gì ? Là sự thấu hiểu. Điều quý giá nhất trong cuộc đời là gì ? Những mối quan hệ (bạn bè). Cuộc sống sẽ không bao giờ là thực nếu không có những mối quan hệ thực sự. Mối quan hệ là điều thiêng liêng. Điều tốt nhất tôi có thể dành tặng bạn chính là tình bạn của tôi. Mối quan hệ là nguồn gốc của niềm vui lớn nhất và đau khổ tinh thần lớn nhất. Chất lượng cuộc sống của chúng ta phụ thuộc nhiều vào chất lượng của những mối quan hệ với những người xung quanh. Thật tốt khi có được những người bạn tốt. Cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt nếu không có những thiện trí thức (những người bạn tinh thần/ những người bạn hướng thượng). Thật là hiếm để có được một người bạn. Bạn mến, tôi không còn lại nhiều bạn bè. Vì vậy, tôi coi trọng những người bạn mà tôi vẫn đang có. Có được một người bạn là một trong những kinh nghiệm tuyệt vời nhất trong cuộc đời. Để phát triển một sự hiểu biết ngày càng sâu sắc về chính mình và về thế giời cũng rất tuyệt vời. Với tôi sự hiểu biết là điều thỏa mãn nhất trong cuộc đời. Không có thời gian và khoảng cách trong tình bạn của chúng ta. Tôi có nhiều bạn mới, những người mà tôi có thể chơi; tôi không trông đợi bất cứ điều gì từ họ: chỉ giữ tâm cởi mở, tự do giao thiệp. Đúng, tôi cũng có “những dính mắc sâu sắc với một số tình bạn chân thành”. Tôi mong muốn mối quan hệ với bạn, với anh ấy, với những đứa con của tôi, cả với mẹ của chúng nữa, được nuôi dưỡng, những mối quan hệ được nuôi dưỡng. Những mối quan hệ với mọi người thì đều không thực sự đáng tin cậy trong hầu hết các trường hợp. Một mối quan hệ trung thực, cởi mở, chân thành, không lôi kéo, áp đặt, nơi có sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, và không có những điều mong đợi không thực tế – liệu có thể có mối quan hệ như vậy không? Một người cần phải có một mối quan hệ tốt cho sự phát triển tinh thần của mình. Một mối quan hệ tốt là điều cần thiết trong đời người. Con người học hỏi và trưởng thành trong một mối quan hệ tốt. Không có một mối quan hệ tốt đẹp, chúng ta sẽ giống như người máy; với một mối quan hệ tồi chúng ta trở thành quái vật hoặc còn tệ hơn vậy. Con người trở nên ngày càng thiếu tính nhân bản bởi vì họ không có những mối quan hệ tốt với người khác.Những mối quan hệ là mảnh đất nơi chúng ta trưởng thành lên về mặt tinh thần. Nếu đất có chất lượng xấu, chúng ta sẽ không thể trưởng thành hoặc sẽ bị thui chột; nếu đất tốt chúng ta sẽ phát triển tốt, mạnh mẽ và trưởng thành. Sẽ không thể có sự trưởng thành tâm lý thực sự nếu không có những mối quan hệ tốt. Vì thế chúng ta cần có những mối quan hệ tốt, nơi mà sự giao thiệp là chân thành, cởi mở, trôi chảy, và không có những nỗi sợ hãi dưới bất cứ hình thức nào. Những mối quan hệ xấu là thuốc độc. Với sự thành thật, cởi mở, hiểu biết, chu đáo, từ ái và kiên nhẫn, chúng chắc chắn sẽ có kết quả. Hầu hết các mối quan hệ đều không có kết quả bởi vì chúng không có sự tự do chia sẻ thông tin (cởi mở), sự quan tâm chân thành, sự tôn trọng thực sự dành cho nhau, và một sự hiểu biết rằng cuối cùng chúng ta cũng chỉ là những con người (mỗi chúng ta đều có những sự bất toàn, những giới hạn). Mong đợi quá nhiều từ người khác cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thất vọng – điều sẽ dẫn đến sự khước từ (nghĩ rằng đây không phải là điều tôi mong đợi hay có thể chấp nhận được).

Với sự cởi mở, chấp nhận chỉ trích, trung thực, tâm từ (lòng từ ái) và hiểu biết, đó sẽ là một mối quan hệ tốt, điều sẽ thúc đẩy sự phát triển tinh thần, sự trưởng thành, vv… Hầu hết các mối quan hệ sau một thời gian chỉ còn là thói quen (thiếu sức sống, trì trệ) .Không có sự chân thành sẽ không có sự giao tiếp thực sự; không có sự giao tiếp thực sự sẽ không có mối quan hệ thực sự; không có mối quan hệ thực sự sẽ không có sự giúp đỡ thực sự (sự ủng hộ, dạy dỗ, vv…).
Bạn cần có một người bạn tốt (hoặc nhiều người bạn tốt, nếu có thể, thì càng hay). Một người không nên sống ở nơi không có bạn. Nhưng thế nào là một người bạn? Và bạn cần một nơi thích hợp với tính khí của mình nữa.Thật dễ để có thể động lòng trắc ẩn với một chúng sinh bị đau khổ, nhưng không dễ để sống với con người này cho đến cuối cuộc đời.

Tình yêu là chưa đủ để gắn kết hai người; sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc là điều cần thiết. Tình thương là chưa đủ trong một mối quan hệ; sự hiểu biết sâu sắc và trân trọng nhau là điều cần thiết. Liệu bạn có thể chấp nhận tất cả các mặt xấu mà không hề mong muốn thay đổi anh ấy và liệu bạn có thể tôn trọng anh ấy như anh ấy đang là hay không. Các mối quan hệ phụ thuộc thì không có kết quả.Các mối quan hệ không nên được sử dụng như là một phương tiện; nó nên đưa đến tình thương, hiểu biết, tôn trọng và trân trọng. Không có ai là hoàn hảo cả. Đôi khi mối quan hệ trở thành sự trói buộc nếu nó không được xuất phát từ những thái độ đúng đắn.Đừng dùng hôn nhân hay bất cứ mối quan hệ nào khác như một cách để giải quyết vấn đề của bạn. Con người nên liên hệ với nhau chỉ bởi họ yêu thương, tôn trọng và trân quý lẫn nhau như đúng con người thật của họ. Nếu không sẽ chẳng thể có được mối quan hệ chân tình. Sẽ hoàn toàn ổn nếu bạn yêu nhưng đừng vội vã tiến tới hôn nhân. Con người thường thay đổi một khi sống trong những mối quan hệ riêng tư.
Phải mất cả cuộc đời để chắc chắn rằng bạn thực lòng yêu thương một ai đó. Đụn rơm thì cháy bùng mạnh mẽ nhưng chóng tàn, còn vỏ trấu khô thì cháy âm ỉ và vẫn còn nhen nhóm một thời gian dài, thật dài. Hôn nhân không phải là điều xấu. Tôi đã từng thấy nhiều cặp sống hài hòa, giúp đỡ nhau thực hành Pháp. Nhưng điều đó cũng rất hiếm.
Thật là hiếm để tìm được một ai đó quan tâm đến bạn. Yêu thương mà không mong đợi kéo dài mối quan hệ. Nhìn ánh mặt trời lộng lẫy buổi hoàng hôn, nhưng bạn không thể nắm giữ nó được.Chúng ta không bao giờ có quá nhiều tâm từ; thường thì chúng ta có quá ít. Tâm từ thực sự sẽ chẳng bao giờ làm bạn khổ sở cả. Chính sự dính mắc và ngóng đợi làm bạn khổ sở. Bạn không thể trông mong tâm từ (mà người khác dành cho mình) như là một sự đáp lại cho tâm từ của bạn được; tâm từ không thể bị đánh đổi. Nếu ở đó có sự mong đợi, chúng ta sẽ bị tổn thương nếu không được đáp lại bằng từ tâm.

Đọc tiếp trang 2 bạn nhé.

Những mẩu chuyện đã lâu.

Mấy mẩu chuyện, đọc cũng đã lâu, nay dọn dẹp lại, đọc thêm lần nữa, và đôi mắt mình lại sáng lên…

//===================================

À    Bàn tay
Hai đứa cùng trọ học xa nhà, thân nhau. Lần vào quán nước, sợ tôi không đủ tiền trả em luồn tay xuống gầm bàn đưa tôi ít tiền. Vô tình đụng tay em… mềm mại.
Ra trường, hai đứa lấy nhau. Sống chung, em hay than phiền về việc xài phí của tôi. Bận nọ tiền lương vơi quá nửa đem về đưa em… chợt nhận ra tay em có nhiều vết chai.
Tự trách, bấy lâu mình quá vô tình!

//======================
Ăn mày
Phố chiều , những dòng người đủ chủng loại xe cộ chen nhau mắc cửi . Vỉa hè , một lão ăn mày ngồi co ro , bộ quần áo lỗ chỗ những mảng thông gió . Khách bộ hành ngang qua đều lách đi qua lão , chun mũi vẻ khinh miệt và ghê tởm …
Chú bé loắt choắt .. cái xắc thì to . Bé vùa đi học về , năm nay bé vừa vào lớp 1 . Bé đi về phía ông già , dợm bước dường như sợ hãi . Rồi bé rón rén lại gần , vòng tay nhìn cụ già ” Cháu chào ông ạ ” .Lão ăn mày ngẩng đầu cười , nụ cười tươi như những chồi non nhú trên thân bàng , dẫu mùa đã sắp sang Đông ….

//====================================
Osin
Chị thuê nó sau khi sinh thằng cu thứ 2 . Con bé ngày mới vào gầy gò hom hem nhưng đảm việc . Lau nhà cửa , trông em , nấu nướng ..chẳng chê nó được việc gì .
Năm nay thằng ku lên ba , vài hôm nữa là đi trẻ . ..
Nuôi thêm một miệng ăn bây giờ không có khó khăn gì , nhưng nuôi để làm gì ? Chị đắn đo về việc cho con bé nghỉ việc .Hai hôm nay lần lữa định nói mà không biết lựa lời sao cho phải . Dù sao nó cũng như một thành viên gia đình này rồi . Cứ nghĩ đến thằng ku và nó quấn quýt là chị lại ngần ngại . Con bé hình như đoán được suy nghĩ của chị , chiều tối nó bỏ cơm , ngồi ôm thằng ku , nước mắt ngân ngấn .
Trưa , chị đi làm về , trên bàn có miếng giấy , nét chữ nguệch ngoạc :
” cháu về quê cô ạ , cháu xin lỗi đã không chào cô . Cháu nhờ cô dùng tiền lương tháng này của cháu mua cho em một món quà . Cô đừng lo cho cháu , cháu đã có tính toán rồi , cháu chào cô ! … ”
Chiều thằng bé đi học về , dáo dác quanh nhà tìm … Chị khóc , vội bế con ra bến xe mua vé về một miền quê nghèo …

Ba mất. Mẹ nó sợ tuổi xuân trôi qua uổng phí, đi bước nữa .

Nó về ở với Nội . Nội già . Nó làm tất cả . Nó giống người châu Phi – đen trùi trũi ! Có người hỏi : “Mày có buồn không ??” . Nó im lặng nhìn xa xăm …..

Một chiều, nó dẫn về một con bé, nhỏ hơn nhiều . Nội nhìn nó ngạc nhiên . Nó ngậm ngùi : “Con còn có Nội – nó chẳng còn ai ….. !!” …..

//================================
Tính Cách
Nguyễn Thị Hoài Thanh

Mẹ tôi buôn bán, chai lì trước cán cân cơm áo nhưng mẫn cảm trong nghệ thuật. Những nước mắt tình buồn phim ảnh, những sụt sùi số phận cải lương, bà hồn nhiên ” ăn theo” một cách ngon lành. Có lần, cha tôi giỡn:
– Coi chừng trôi ti vi …
– Còn sách ông chưa viết ra đã hoá đá – Mẹ tôi trả miếng – Thế cũng mang danh nhà này, nhà nọ.
Một hôm, đang bữa ăn, bỗng nhiên mẹ tôi hớn hoá phốc ra chặn đường con bé bán trứng vịt lộn.
– mày biến đâu tài thế. Hì! có chui xuống đất cũng gặp tao- Bà vừa nói vừa giằng mủng trứng, đếm lấy trừ nợ.
– Dì ơi, cho con khất, mẹ con ốm!
– Nhà này cũng đang ốm đây – Mẹ tôi cười bù – Khỏi bẻm mép.
Con bé chưng hửng, lã chã nước mắt nhìn cái mủng không, rồi bưng lên, xiêu vẹo bước đi …
Cha tôi cám cảnh, quay mặt, rút khăn mùi soa chấm mắt.
Lâu sau, ti vi phát vở kịch ” Cô bé nghèo bán trứng bị xiếc nợ “. Lúc ấy, mẹ tôi lại khóc, còn cha tôi thì cười.

//====================================================

Anh Hai
Lý Thanh Thảo

Ăn thêm cái nữa đi con!
– Ngán quá, con không ăn đâu!
– Ráng ăn thêm 1 cái, má thương. Ngoan đi cưng!
– Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!
Thằng bé lắc đầu quầy quậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường, sát mép cống. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đi.
Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ, xô đến. Mắt 2 đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:
– Anh hai thổi sạch rồi mình ăn.
Thằng anh phùng má thổi. Bụi đường đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tỏm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.
– Ai biểu anh hai thổi chi cho mạnh – con bé nói rồi thút thít.
– Ừa . Tại anh ! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm 2 ngón thôi!

Phê phán và Sáng tạo

Phê phán và sáng tạo

Thành Xuân Thuỷ

 

SONY DSC
Tất cả chúng ta đều mong muốn làm việc trong một môi trường sáng tạo, nơi mà mọi hoạt động đều hướng tới một mục đích chung là tạo nên những kết nối mới, nhằm phục vụ cho cuộc sống của chính chúng ta với một không khí thật “fresh & fun”.

Vì vậy, có một nguyên tắc chung mà tất cả mọi người đều biết: chúng ta tránh phê phán, không quy kết. Nguyên tắc này đưa ra để mọi người có thể phát huy hết khả năng, ý tưởng của mình mà không phải e dè hay lo sợ người khác chê cười.

Nếu chúng ta luôn phê phán một cách tiêu cực, bi quan với một thái độ xa lánh thì hậu quả nào tất yếu sẽ xảy ra? Mọi người sẽ không thể sáng tạo nên cái mới, không thể khuyến khích người khác phát huy hết khả năng của mình nếu lúc nào họ cũng tìm cách bác bỏ những ý tưởng mới vì một vài lý do chủ quan.

Nhưng chúng ta có nên loại bỏ hoàn toàn sự phê phán hay không? Câu trả lời thật đáng ngạc nhiên. Phê phán không đáng chê như vậy, thậm chí, phê phán là một giai đoạn không thể thiếu của sáng tạo.

* Phê phán mang tính sáng tạo là gì?

Trước hết, chúng ta phải hiểu phê phán là gì. Theo tôi, phê phán chính là chỉ ra những yếu tố, thành phần mang tính cũ, lạc hậu, tiêu cực hay tính “ì” trong hệ thống. Như vậy, nó là một bước trong giai đoạn nhận thức vấn đề khi ta muốn giải quyết một vấn đề gì đó một cách sáng tạo.

Thật vậy, khi gặp một vấn đề, việc đầu tiên chúng ta nên làm là phải hiểu bản chất của vấn đề. Nếu ta coi vấn đề như một hệ thống thì, phê phán chính là cái nhìn giúp chỉ ra đâu là thành phần gây bất ổn, đâu là cái làm cho chúng ta không đạt được mục đích đề ra.

* Làm thế nào để nhận thức vấn đề bằng phê phán?

Muốn tìm ra những yếu tố trì hoãn hệ thống, mọi người cần phải hiểu thật rõ hệ thống mà chúng ta xem xét một cách bằng cách, sử dụng chính khái niệm của nó để tìm hiểu nó. Nói một cách đơn giản, muốn giải một bài toán hình học, chúng ta không thể dùng khái niệm số âm, số dương hay số nguyên tố của đại số để suy nghĩ được. Chúng ta phải dùng những khái niệm như đường thẳng, đoạn thẳng… để tìm ra lời giải phải không các bạn. Khi đã phân biệt được từng yếu tố, đâu là giả thiết, đâu là kết luận của bài toán, chúng ta sẽ nhìn thấy ngay đâu là yếu tố gây mất ổn định của hệ thống, để từ đó tìm cách giải quyết vấn đề.

Cũng giống như khi làm brainstorming, chúng ta phải luôn nhớ rằng, mục đích của chúng ta là giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, vì vậy chúng ta phải nhìn nhận những gì chưa tốt theo con mắt tích cực, nhằm hướng đến mục tiêu của sáng tạo là tạo ra kết nối mới, có ích, có ý nghĩa đối với con người. Làm như vậy ta sẽ không bị rơi vào trạng thái quy kết, phê phán một cách tiêu cực như đã nói lúc đầu. Rõ ràng là, nếu ta có thái độ xa lánh những gì chưa tốt, ta không thể hiểu & giải quyết được vấn đề, nói cách khác, ta sẽ không đạt được mục đích của sáng tạo.

Ngoài ra, chúng ta cũng nên nhớ rằng, bên cạnh cái không tốt, cái tiêu cực của nó, ta cũng có thể tìm ra những yếu tố có thể giúp ích cho chúng ta. Nghĩa là, sự phê phán phải mang tính kế thừa. Chúng ta không đơn thuần loại bỏ cái cũ mà còn học tập, phát huy những gì hay, tiến bộ trong hệ thống, thậm chí trong chính yếu tố gây cản trở hệ thống mà ta đang xem xét.

* Tác dụng
Như mọi người đều biết, sáng tạo là tạo ra một cái gì đó mới, có ích, có ý nghĩa, làm cho cuộc sống trở nên thoải mái, không bị gò ép. Khi chúng ta vạch rõ những gì chưa tốt, những gì còn xấu trong hệ thống, có nghĩa là chúng ta đã chỉ ra được, đối tượng mà chúng ta cần thay đổi là gì. Và khi chúng ta loại bỏ yếu tố, thành phần đó, chúng ta đã tạo ra được một hệ thống hoàn toàn mới. Ở đó, tính lạc hậu, tiêu cực đã bị loại bỏ, cái tiến bộ, cái mới đã được kế thừa.

Rõ ràng, trong hệ thống mới này, chúng ta lại có thể phát hiện ra những gì chưa được để rồi cải tiến, sáng tạo thêm cho nó phục vụ tốt hơn cho cuộc sống con người. Phê phán giúp ta có một cái nhìn khách quan, luôn mong muốn tạo ra một cái mới, tốt hơn, có ích hơn, tuyệt vời hơn. Nó giúp cho chúng ta luôn sáng tạo một cách không ngừng, vì bất kỳ hệ thống nào cũng có thể phát triển tốt hơn, giúp ích cho con người nhiều hơn.

Đối với mỗi cá nhân, cái nhìn phê phán giúp cho chúng ta, khi nhìn nhận bất cứ một vấn đề nào cũng có cái nhìn toàn diện, không chỉ nhìn vào những gì tốt đẹp của nó mà còn giúp ta chỉ ra những gì cần phải biến đổi, cần phải sáng tạo thêm.

* Tóm lại

Cuộc sống là một chuỗi những thách thức, muốn chiến thắng, chúng ta phải vượt qua những thách thức một cách sáng tạo. Việc trước tiên chúng ta cần làm là phải hiểu bản chất của vấn đề mà ta đang đối mặt. Sau khi đã chỉ rõ bản chất của vấn đề bằng con mắt phê phán, chúng ta bắt tay vào giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Sau khi vấn đề được giải quyết, chắc chắn cuộc sống lại đặt ta vào một thách thức mới. Và chúng ta? chúng ta luôn sẵn sàng cho sự khởi đầu mới, phải không các bạn?

 

From ~ http://kynangsong.xitrum.net/congso/18.html