16 nhu cầu cơ bản của con người.

// Tại sao mình chia sẻ lại bài viết này… Những nhu cầu này, nói cách khác, chúng là những động lực, những nguyên nhân mà một ai đó sẽ làm cái này hoặc làm cái kia, hay không làm điều gì đó. Và đồng thời, chúng là mục đích của con người ta. Và lẽ dĩ nhiên, là từ đây, chúng là những điều kiện để một người này khác biệt với kẻ khác ra sao.

Thanks

p/s: Vậy nhu cầu của mình ở đây là gì. =))

//

 

16 nhu cầu cơ bản của con người.

Tài liệu tham khảo : “The Normal Personality- A NEW WAY OF THINKING ABOUT PEOPLE” của Steven Reiss

Tất cả mọi người đều có 16 nhu cầu cơ bản nhưng được họ ưu tiên theo cách khác nhau. Cách mà mỗi cá nhân ưu tiên thỏa mãn nhu cầu được gọi là một Reiss Motivation Profile (RMP),nó tiết lộ về những giá trị ( values ) của người đó.

Nguồn ảnh: pentv.tv

5 đặc điểm của 1 nhu cầu cơ bản :

1. Động cơ phổ quát (UNIVERSAL MOTIVATION). Những nhu cầu cơ bản thúc đẩy mọi người hành động.

2. Những nhu cầu tâm lý (PSYCHOLOGICAL NEEDS ). Sự thỏa mãn 1 nhu cầu cơ bản luôn luôn mang tính tạm thời- nhiều giờ hoặc nhiều ngày sau khi thỏa mãn được 1 mục tiêu thì nhu cầu cơ bản của con người lại được xác lập lại và nó ảnh hường đến hành vi một lần nữa. Ví dụ, khi chúng ta thỏa mãn nhu cầu tò mò về 1 chủ đề, lĩnh vực nào đó, sớm hay muộn gì chúng ta cũng trở nên tò mò về những chủ đề khác.

Tại sao những nhu cầu cơ bản lại tự xác lập lại sau khi chúng ta đã thỏa mãn chúng?

Bởi vì những nhu cầu cơ bản thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những trải nghiệm thỏa mãn ở 1 mức độ nhất định. Ví dụ, nhu cầu ăn uống thúc đẩy chúng ta tiêu thụ khoảng 2500 calo mỗi ngày. Khi bạn ăn ít hơn số calo trong 1 ngày, bạn sẽ đói. Khi bạn ăn nhiều hơn, bạn sẽ thấy nặng nề. Khi bạn ăn đủ lượng thức ăn , bạn sẽ cảm thấy thỏa mãn. Sự thỏa mãn của bạn chỉ là tạm thời.

3. Động cơ nội tại (INTRINSIC MOTIVATION ). People pursue basic desires for no reason other than that is what they want. Ví dụ, nhu cầu ngăn nắp gọn gàng thúc đẩy chúng ta tổ chức, sắp xếp cuộc sống của mình bởi vì chúng ta đánh giá cao tính trật tự, có kế hoạch ; trong khi đó nhu cầu muốn được người khác chấp nhận thúc đẩy chúng ta tránh né bị phê bình chỉ trích bởi vì chúng ta đánh giá cao sự chấp nhận.

Những nhu cầu khác nhau có thể là động cơ thúc đẩy hành vi giống nhau. Ví dụ , khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc vì chúng ta đề cao tính trật tự, chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu ngăn nắp. Khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc để tránh bị người quản lý phê bình thì chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu muốn được người khác chấp nhận. Khi chúng ta sắp xếp lại nơi làm việc vì cả 2 lý do trên, chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu ngăn nắp và muốn được chấp nhận.

4. Những giá trị nội tại (INTRINSIC VALUES) . We are a species motivated to assert our values.

5. PSYCHOLOGICAL SIGNIFICANCE

Sau đây là 16 nhu cầu cơ bản:

1. Acceptance, the desire to avoid criticism and rejection: Nhu cầu chấp nhận : muốn tránh không bị phê bình và chối bỏ.

2. Curiosity, the desire for cognition: Nhu cầu tò mò : khát khao về mặt nhận thức.

3. Eating, the desire for food: Nhu cầu ăn uống : khát khao với thức ăn

4. Family, the desire to raise one’s own children: Nhu cầu gia đình : nuôi dạy con cái.

5. Honor, the desire to behave morally: Nhu cầu tự trọng : muốn hành xử theo đạo đức.

6. Idealism, the desire for social justice: Nhu cầu công bằng : khát khao về sự công bằng xã hội

7. Independence, the desire for self-reliance: Nhu cầu độc lập

8. Order, the desire for structure: Nhu cầu trật tự

9. Physical Activity, the desire to move one’s muscles: Nhu cầu vận động cơ thể

10. Power, the desire for influence of will: Nhu cầu quyền lực, khát khao ảnh hưởng đến mọi người

11. Romance, the desire for sex: Nhu cầu tình dục

12. Saving, the desire to collect: Nhu cầu tiết kiệm, tích lũy

13. Social Contact, the desire for friendship: Nhu cầu kết nối xã hội, bạn bè

14. Status, the desire for prestige: Nhu cầu địa vị xã hội, khát khao danh tiếng

15. Tranquility, the desire for inner peace: Nhu cầu bình an nội tâm

16. Vengeance, the desire to get even: Nhu cầu trả thù

Cường độ nhu cầu mạnh : chỉ về nhu cầu của người đó mạnh hơn những người bình thường ( trên 20% khi so sánh với dân số nói chung) . Người đó sẽ phát triển những nét tính cách, hoặc những thói quen để thỏa mãn nhu cầu được lặp đi lặp lại. Ví dụ, 1 người có nhu cầu suy nghĩ cao (a high-intensity need to think) sẽ dành nhiều thời gian cho hoạt động trí tuệ , người ấy sẽ bộc lộ những tính cách của người trí thức, học giả.

Cường độ nhu cầu yếu : Chỉ về nhu cầu của người đó yếu hơn, thấp hơn so với những người bình thường ( thấp hơn 20% khi so sánh với dân số nói chung). Người đó sẽ phát triển những nét tính cách, hoặc những thói quen để thỏa mãn nhu cầu được lặp đi lặp lại. Ví dụ, 1 người có nhu cầu suy nghĩ thấp (A person with a low-intensity need to think) sẽ dành ít thời gian cho hoạt động trí tuệ và người đó sẽ bộc lộ những tính cách của 1 người thiên về thực hành, thiên về hành động (traits of a practical, action-oriented).

Cường độ nhu cầu trung bình – bao gồm 60% dân số. Những nhu cầu đó được thỏa mãn hằng ngày và không yêu cầu phát triển những thói quen riêng biệt hoặc những nét tính cách để thỏa mãn những nhu cầu đó.Người có cường độ nhu cầu trung bình thỉnh thoảng sẽ bộc lộ những tính cách gắn liền với cường độ nhu cầu mạnh và thỉnh thoảng lại bộc lộ những tính cách gắn liền với cường độ nhu cầu thấp.
Đón đọc trang 2 nhé.

My Dream…

Lời Tòa Soạn: Trong một sự tình cờ, chúng tôi khám phá ra được một tài năng sớm chớm nở. Cháu Henry Nguyễn mới học lớp 7 nhưng Toán Học và Anh Ngữ đã vượt trội cả các em lớp trung học phổ thông (đệ nhị cấp). Thầy Đồ Hoàng chấp nhận em vào học lớp Đặc Biệt Cuối Tuần, hi vọng sẽ bù đắp thêm cho em về các mặt Toán, Ngoại Ngữ và Khoa Học để em vào được những đại học lớn của Hoa Kỳ và đạt những sở nguyện.

Bài em viết dưới đây trong hơn một giờ đồng hồ đã nói lên khả năng khác thường về lý luận và Anh ngữ của em. Bài đăng nguyên văn, không sửa chữa hay thêm bớt. Xin gởi đến các em học sinh cùng lứa tuổi trong và ngoài nước những tâm tình chân thật và sâu sắc của một bạn trẻ Việt Nam hiện đang sinh sống tại bang California.

Thầy Đồ Hoàng

dream

 

My Dream

Henry Nguyen

 

Since I have learned of the existence of space, I often took the time to look out of the window, and gaze at the magnificence of the stars. These stars have symbolized hope for me, and are just amazing to observe. On Earth, we have discovered many things not known before, and now we even have the technology to explore even past this, and into the outer reaches of space. I can try to study the universe, but without the job of an astronomer, I would never, really have the tools to learn anything. Throughout my life, I have learned that the sky is not the limit, but how far I am willing to travel is. This is the 21st century, and there are many openings, I can take.

 

There are many reasons for me to want to become an astronomer, and my intentions are clear. First of all, I just want to learn about what is out there. I have not been such an explorer now, but that is because there is nothing to learn on the ground we know. I believe that we must look further before any of us can discover new and amazing things. When I was young, I read any book about the universe that I could. All these things were fascinating, but none could really pierce my mind, and tell me what I wanted to learn. With the choice of becoming an astronomer, I could finally learn what I wished to know, and continue to learn throughout my life time.

 

Next, I know that humans are just curious, and want to explore. People from all over the world come to work, and discover what is to be found. This is something I want to be part of. When people are working together to learn, it is a time of peace, away from all the fighting and wars taking place on out planet. By trying to explore the universe, we, as humans can experience something great and have a purpose. I can try to be anything else, but nearly all things have no reason. I could become a doctor, but what is the purpose of that? Someone could make money and save lives, but even more people are lost in war. The only thing that I have seen, that could possibly lead to peace, is by working as one, all the countries exploring the universe. We had the great space race, between the U.S. and the Soviet Union, but that lead to nothing, but conflict. If we could issue peace to work on a large scale project, we could do that to give peace to the world. This is one thing, I consider great, not making money, but doing something with a purpose.

 

Lastly, it is just my dream. I have no other interests, as great as this one, and it is an amazing thing to do. I know that the astronomers before me enjoyed their work, and like me, they saw a purpose. Nothing else could give me such a chance, as being an astronomer. The world is a different place now, and I just want to be a part of something, that could help the people of this planet. The information I could learn, would be passed down, and the future of our race, can finally exit the fog. For millennia, our race has pursued worthless things, but by working as one, and showing what humans can really do, will help everyone.

 

So, in conclusion, I want to be an astronomer, for it gives me a chance. A chance to explore, a chance to restore peace, and have a purpose. For years, I have gazed at the stars, and if I can have the opportunity to become an astronomer, I will take it, to continue what I have always done. Exploring the world outside of our atmosphere, sounds appealing to me, and I would wish to learn what nature has created, away from our planet. This may only be a dream, but one that can be a reality.

Nguồn:

http://www.giohocduong.vn/giao-luu/topic-sinh-vien/692-essay-henry.html

Nguyễn Hoàng Đức – Người trí thức dấn thân.

Nguyễn Hoàng Đức- người trí thức dấn thân 

   Phùng Văn Khai

nguyenhoangduc

   Tôi biết tới Nguyễn Hoàng Đức thông qua văn bản khi anh viết loạt bài phê bình văn phẩm Nguyễn Huy Thiệp trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc vào cuối thế kỷ trước, khi mọi người đang ồn ào về Nguyễn Huy Thiệp. Khi ấy tôi rất có cảm tình với cách phê bình rốt ráo có phần cực đoan nhưng được phân tích trên cơ sở khoa học bằng văn bản đã viết ra của tác giả. Từ đó tôi luôn để ý đọc anh. Nhiều bài rất thích thú ở thể loại phê bình văn học như Sáng tạo mỹ học từ cái nhìn đơn giản; Thực trạng thơ Việt Nam; Lý trí trên ngai vàng sáng tạo; Hình thức và nội dung sáng tạo; Không thẩm định thì không sáng tạo; Tìm cái mới trong khả năng sáng tạo của nhà văn; Kịch tính trên đỉnh đầu sáng tạo; Hậu hiện đại sống ngoài tác phẩm; Khoa học và nghệ thuật trong sáng tạo; Tại sao chúng ta có nền phê bình yếu… Các bài bàn về văn hóa, triết học sâu sắc và độc đáo như: Văn hóa: Cái nhìn từ nền tảng; Văn hóa giữa dòng hội nhập; Văn minh: Cái nhìn từ nền tảng; Thượng đế là ai?; Bi kịch con người; Bản ngã, tâm linh – thể xác, tự do, tha nhân; Kịch tính giữa dục vọng và lý tưởng; Những kịch tính tột đỉnh hào quang; Quỹ đạo chân thiện mỹ ở đời… Hàng loạt những bài khác nữa bàn về tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc gia đình đã đưa Nguyễn Hoàng Đức trở thành một thương hiệu báo chí có trọng lượng, nhưng cũng thú thật tôi không ưa thích những bài báo cũng như những ý kiến của anh về các vấn đề khác ngoài triết học và phê bình văn học, nên trong tâm thức và phác thảo của tôi về Nguyễn Hoàng Đức xin được chỉ đi sâu về hai mảng mà anh đã xác lập được với cá nhân tôi.

   Tại sao tôi cho rằng Nguyễn Hoàng Đức là một trí  thức dấn thân trong khi ở ta có không nhiều những con người như vậy. Về một phía nào đó, không hiểu tại sao ở ta một Nguyễn Hoàng Đức chưa được biết đến nhiều thậm chí chỉ được biết đến như một người kỳ cục, một anh hề triết học, một Đông-ki-sốt văn chương cưỡi con ngựa văn hóa duy lý của phương Tây đi giữa cuộc đời (Đỗ Minh Tuấn); Nguyễn Hoàng Đức đã vô nghĩa hóa toàn bộ văn học Việt Nam đương đại (Hòa Vang); Nguyễn Hoàng Đức đã dấn thân và cô đơn trên con đường lý trí để thực hiện sứ mệnh của bản thân mình cho chân lý sáng tạo văn học nghệ thuật (Lương Tử Đức); Cái gì Nguyễn Hoàng Đức cũng lấy thước đo của lý luận, của triết học để phán xét. Ông sáng tác cũng theo các tiêu chuẩn của triết học (Nguyễn Quang Thiều)… Một người Việt ở nước ngoài còn trân trọng Nguyễn Hoàng Đức mà theo tôi là không có gì tô vẽ còn rất chân xác: “Tôi đã từng bị tác phẩm “ý hướng tính văn chương” của anh Đức hấp dẫn từ lâu. Sau đó tôi mua tiếp tác phẩm “Cô đơn Con người – Cô đơn Thi sĩ” của anh và đọc ngấu nghiến! Anh Đức là một người Việt hiếm có. Anh làm tôi nhớ đến triết gia Trần Đức Thảo – một triết gia thực thụ được thế giới công nhận. Tôi có viết lách đôi chút, nhưng khi nhìn sang anh Đức thì mới thấy được năng lực sáng tác của anh mới thật sự khổng lồ – chắc chắn đó là món quà vô giá của Chúa gửi vào anh! Tôi ước mong sao được gặp anh để nghe anh tâm sự về tri thức, về sự dấn thân văn chương và triết lý và tìm hiểu về năng lực sáng tạo bí ẩn của anh! Quan trọng nhất của một người trí thức là tính trung thực và thái độ dấn thân hết mình vì chân lý. Anh Đức hoàn toàn có được những phẩm chất đáng quý ấy! Chúng ta hãy tiếp nhận những tác phẩm của anh với thái độ trân trọng và đối thoại trên cơ sở nhân văn chung. (Đinh Gia Hưng).

   *

   *     *

   Từ  nhiều nguồn thông tin khác nhau cộng với chiêm nghiệm của chính bản thân mình, cá nhân tôi cho rằng Nguyễn Hoàng Đức chính là một trí thức dấn thân, bản thân anh cũng luôn ý thức rõ ràng điều này mà biểu hiện rõ nhất từ những tác phẩm của mình trên nhiều thể loại: Chuyên luận triết học, Chuyên luận thần học, Phê bình văn học, Tiểu luận tình yêu, Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Trường ca, Thơ… Ước vọng của Nguyễn Hoàng Đức là một ước vọng chính đáng khi muốn mình trở thành một nhà văn có căn bản triết học, có tư tưởng, từ đó anh đã thực sự dấn thân. Nguyễn Hoàng Đức có quan điểm sáng tác rất rõ ràng: Viết văn trước hết phải giống làm nghề chuyên môn để đưa ra sản phẩm chuyên nghiệp. Đó là tiêu chí tối thiểu khi cầm bút. Nhưng viết văn là nghề đặc biệt, nghề mở đường hay cứu rỗi, hoặc khiêm tốn hơn là “trợ lực” cho các tâm hồn, đơn giản vì xã hội không có ngành dịch vụ nào thay thế được văn chương để trợ lực tâm hồn… đã cho thấy sự rõ ràng minh bạch trong quan điểm sáng tác của Nguyễn Hoàng Đức trong hành trình dấn thân của mình.

   Rất khó định nghĩa thế nào là một người trí  thức, đặc biệt là một người trí thức dấn thân càng khó khăn. Vấn đề không phải là  anh ta đưa ra những thua thiệt cá nhân, những đối lập về tư tưởng mà vấn đề là anh đã làm gì, chủ yếu bằng những trăn trở và phản biện của anh, trong những nguyên tắc và học thức của anh, từ sự nhất quán đến toàn bộ hành động của cuộc đời anh, dự đoán tiếp, bảo vệ đến cùng những cái mới mẻ tiến bộ của thế giới loài người mà không thể vì bất cứ lý do gì đi ngược lại cái nền móng mà mình đã đặt ra. Người trí thức dấn thân còn phải có đạo đức của trách nhiệm, của niềm tin, ngay cả khi trách nhiệm và niềm tin đó trong cộng đồng anh ta đang sống là thiểu số. Biết lựa chọn đứng về sự im lặng hoặc bản thân hoàn toàn im lặng khi thấy đó là cần thiết nhưng cũng sẵn sàng đi đến cùng, hành động đến cùng vì chính niềm tin và trách nhiệm mà mình đã xác lập. Người trí thức dấn thân phải là người hành động vì lương tâm vì chỉ có lương tâm thời đại mới nâng con người cao hơn chính bản thân mình. Chỉ có lương tâm thời đại mới mạnh hơn sự tăm tối dốt nát.

Tôi  đã rất phân vân khi xếp Nguyễn Hoàng Đức như là  một trí thức dấn thân không bởi bản thân anh đã dành gần như toàn bộ cuộc đời mình cho chữ nghĩa một cách đầy ý thức, cũng không phải những gì anh nhận được từ chữ nghĩa dường như chưa tương xứng với  sức lao động của anh, mà là, thật đơn giản, lương tâm tôi đã chỉ bảo cách sắp xếp trên là phù hợp. Chúng ta vẫn biết về cơ bản, chức năng chính của người trí thức là suy nghĩ chứ không phải hành động. Họ phải băn khoăn, lo lắng, day dứt, đặt lại mọi vấn đề để tự đi tìm lấy tư tưởng của mình. Điều đó có thế gây phiền toái, đi ngược lại đường hướng cũng như lợi ích của một số người, rất nhiều người, thậm chí xã hội mà anh ta đang sống. Bản thân người trí thức luôn mâu thuẫn với xung quanh và tự mâu thuẫn với chính mình và chỉ như vậy anh ta mới cảm thấy yên ổn hơn trong chính những mâu thuẫn suốt đời phải đương đầu. Trí thức dấn thân luôn muốn đánh thức một ai đó, một xã hội nào đó, một vấn đề nào đó, bất kể điều đó là gì, có phương hại gì đến anh ta hay không. Đó cũng là một chức năng của trí thức. Ví dụ như bàn về hai chữ tự do, Nguyễn Hoàng Đức cho rằng: Tự do không chỉ là vật liệu thiết yếu mở màn xây nên mọi giá trị của con người mà tự do còn là một báu vật đạt tới mọi tầm cao của giá trị nhân loại. Hình ảnh tự do là chìa khóa, thật là đích đáng, bởi vì không có tự do con người khác chi con chim bị nhốt trong lồng, con thú bị nhốt trong chuồng, và tự do bắt đầu là chìa khóa mở cửa cho người ta bước khỏi nơi giam cầm đó, nó giống như chìa khóa của viên cai ngục tra vào ổ khóa của nhà tù, được trả tự do. Khi con chim bị giam trong lồng, cổ họng nó nghẹt thở sự sợ hãi thì làm sao có thế cất tiếng hót!

   Đó phải là suy nghĩ của một người trân trọng tự do và chân lý. Đó phải là suy nghĩ của người trí thức.

 Tiếp trang 2.

Nhân quyền, Dân chủ và Tự do (Phần 1)

Nhân quyền, Dân chủ và Tự do (Phần 1).

Chúng ta là con người. Chúng ta giúp đỡ nhau, tôn trọng nhau, yêu thuơng nhau.

Và hãy cụ thể bằng những hành động.

Những hành động thường ngày, những hành động ở nhà, công sở…

LỜI PHẬT DẠY

LỜI PHẬT DẠY.

LỜI PHẬT DẠY VỀ THỜI GIAN – NGHIỆP BÁO
Khi con chim còn sống, nó ăn kiến.
Khi chim chết, kiến ăn nó.
Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào,
Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này.
Bạn có thế đầy quyền lực ngày hôm nay,
Nhưng đừng quên rằng,
Thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn.
… …

Bạn có thể kiểm soát được những gì? Bạn đã kiểm soát cái gì? Và tại sao? 😉

Thanks Trâm thân mến.

Cuộc Đời Đáng Sống

Nguồn: http://muoianhsang.com/cuoc-doi-dang-song/

680008031_9108be7d59_o

Nhìn những cụ già bước đi xin lòng thương xót của mọi người qua đường, nhìn những người vô gia cư ngủ vất vưởng bên hè phố trong cái nóng ban ngày  và cơn mưa rào ban đêm, nhìn những em bé vừa lọt lòng đã phải trở thành dụng cụ để cha mẹ chúng xin ăn, nhìn những cảnh đời giết chóc, chứng kiến những cái chết do tự vẫn, cái chết bất ngờ do tai nạn, thiên tai, nhìn thấy những người bị dị tật bẩm sinh sống quanh mình (bại não, khiếm thính, khiếm thị, mất một phần cơ thể….), đọc được những thống kê đáng buồn về tình hình phát triển kinh tế thế giới và trong nước… ta suỹ nghĩ, cảm nghiệm, và học được gì cho cuộc đời mình? Ta có cảm thấy mình thật may mắn, thật hạnh phúc biết bao vì còn lành lạnh, khoẻ mạnh, bình an vô sự, và còn đang được nếm trải cái hương vị của cuộc sống không? Hay ta lại thấy mình đáng thương, đáng tội nghiệp, và thấy đời không còn một chút lý do gì để mà sống?

Với tỷ lệ người tự vẫn trên thế giới ngày một gia tăng, nạn đâm chém xảy ra đó đây trên thế giới cách vô tội vạ, cảnh người người vật vã sống qua ngày đoạn tháng tràn lan trên khắp mặt địa cầu, ta cũng có thể thấy con người ngày càng cảm thấy cuộc sống thật vô nghĩa, vô lý, và vô vọng. Quả thật, nếu cứ theo nghĩa bình thường mà xét thì cuộc sống thật nhàm chán, chẳng có gì hay ho và thú vị hết, cả cuộc đời cứ luẩn quẩn với chuyện cơm – áo – gạo – tiền – tiệc tùng – hội hè – yêu nhau – sinh con – đi học – đi làm…. thật không có một sự gì khiến ta vui mãi và hạnh phúc mãi, trái lại toàn những chuyện không đâu xảy đến để rồi vui chưa kịp ngấm thì nỗi buồn và sự muộn phiền đã đến. Thế nhưng, đó không phải là bản chất thật của cuộc sống và cũng không phải là điều mà con người tự do của chúng ta phải đón nhận như một định mệnh chán chường của phận người, cuộc sống của mỗi người chúng ta có một ý nghĩa khác trổi vượt và cao vời hơn tất cả những thứ tầm thường ở đời mà ta đang bám víu tạm bợ vào đó để rồi chán nản thất vọng.

Chúng ta đều biết mỗi người đều được tạo dựng và sinh ra bởi Tình Yêu. Thế nên, cuộc sống của ta chỉ có ý nghĩa thật sự khi chúng ta sống trong bầu khí yêu thương và biết thông ban tình yêu của mình cho mọi người. Hãy thử hình dung nếu mỗi sớm mai thức giấc, mở cánh cửa phòng ra ta thấy những tia nắng tình yêu lập tực đổ vào phòng, những tiếng chim hoan ca, những bông hoa đua nở, tiếng người người gọi nhau bằng ngôn ngữ của tình yêu, mọi người thân yêu trong gia đình ta cũng mỉm cười chào chúc nhau bằng tiếng nói của tình yêu, khi đến trường lớp thầy cô và bạn hữu cũng biết yêu ta như thể ta là người thân thiết của họ, đến cơ quan ta gặp thấy ai cũng nở nụ cười tươi đón chào ta…. thì ta có thấy đời đáng sống không? Thử hỏi có ai lại điên dại tự vẫn để mau mau ra khỏi cái thế giới tình yêu này không?

Nếu như trong cuộc sống kể từ thuở ấu thơ ta luôn được nâng đỡ và trợ giúp bởi những người lớn tràn ngập tình yêu thì cuộc sống của ta sẽ khác rất nhiều. Đằng này ta lại toàn nếm phải trái đắng trong cuộc sống mỗi ngày bởi cái yếu đuối thể xác của những người lớn trong gia đình ta và ngoài xã hội: quát mắng, dọa nạt, khi chê, xỉ vả, phạt vạ, trù dập, đòn roi, bỏ đói, bỏ rơi, bạo lực, thiên vị… tất cả đều gợi cho ta cái cảm tưởng rằng đời này quá khắc nghiệt, và như thế lập tức bằng khả năng được trang bị sẵn để ta thay vì dùng để thông ban và yêu thương, thì giờ ta đề phòng,  xây dựng rào chắn bảo vệ chiến hào, ta chủ động tấn công người khác và tấn công chính mình, ta cảm thấy đời chẳng đáng sống nhưng phải sống cho qua để còn có cơ hội để hành hạ, vật vã, cô lập, và làm tất cả những điều ta được nếm trải từ thuở ấu thơ lên trên người khác, và điều này trong ngành tâm lý học miền sâu gọi là “Sự Phóng Chiếu – Projection”.

Theo đó, ta sẽ dễ dàng có xu hướng phóng chiếu tình cảm và hoàn cảnh của mình sang một người khác tốt xấu tùy theo mức độ mà đời sống của ta được đón nhận. Nếu ta được sinh ra và lớn lên trong một môi trường toàn sự dịu ngọt, tình yêu, và niềm vui thì khi lớn lên ta sẽ phóng chiếu nó ra cho người đối diện bằng cách ta cũng nghĩ họ giống ta, và ngược lại nếu ta sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh khá bất hạnh và toàn những điều xấu bao quanh, ta sẽ phóng chiếu nó sang người đối diện bằng việc nghĩ họ cũng giống ta, thậm chí ta sẽ đối xử với họ cách gian dối, tàn bạo, lạnh lùng, và bất hảo như ta đã từng bị bởi cuộc sống của mình. Bởi đó, nếu tất cả mọi người trên thế giới đều được sinh ra và lớn lên trong tình yêu, niềm vui, trung thực, hòa khí, trong sạch, cầu tiến, rộng lượng, tiết độ, hỗ tương….thì hẳn thế giới đã chẳng có chuyện vì gian tham mà đi đánh chiếm, chẳng có chuyện giàu nghèo, chẳng có chuyện ly hôn, giết chóc, tự vẫn, lọc lừa, chơi xấu, bệnh tật, và đói khổ. Tất cả sẽ được bao bọc bằng một bầu khí quyển của tình yêu và niềm vui, mà nếu thế thì dù cuộc sống có chút khó khăn ta vẫn cảm thấy mình không đơn độc và bị bỏ rơi.

Vậy với bối cảnh xung quanh toàn những chuyện ngột ngạt và chán phèo, cuộc đời của ta có gì để gọi là đáng sống? Cuộc đời của tôi và của bạn đều đáng sống và sống tròn đầy là bởi vì những điều sau đây:

Đọc tiếp trang 2 nhé: