[Ebook] Bàn về tự do – J.S. Mill (FULL 263p)- uploaded by thongthaidihoc

 

 

Tên sách: Bàn về tự do – J.S. Mill – uploaded by thongthaidihoc
Tác giả: John Stuart Mill

Bản Quyền: © Nhà xuất bản Tri Thức

Nguồn: http://sachviet.edu.vn

              http://www.doimoi.org

Tổng hợp: thông thái đi học
Ðịnh dạng: .PDF
Dung lượng: Bản 1~ 1MB (Nội dung đủ nhưng thiếu phần phụ lục)

Bản 2 ~ 14MB (Đủ, nhưng là bản scan)
Upload: thông thái đi học (: .
Giới thiệu: thongthaidihoc Ebooks.

//————————————————-

Cuốn sách nền tảng của tư duy lý luận và tư tưởng

 phương Tây

Được John Stuart Mill viết năm 1859, Bàn Về Tự Do đã đề cập đến một trong những

vấn đề được nhiều người quan tâm, đó là sự tự do cá nhân hay quyền của các cá nhân

trong mối quan hệ của họ với cộng đồng và xã hội. Tuy tác giả không phải là triết gia

đầu tiên trong lịch sử nêu lên ý tưởng về quyền tự do của con người nhưng ông là

người đưa ra định nghĩa thuyết phục nhất cho quyền này.

Do vậy, Bàn Về Tự Do mau chóng trở nên nổi tiếng ngay sau lần xuất bản đầu tiên.

Và, trong suốt gần 150 năm qua, nó đã là “bài nhập môn”, là cuốn sách gối đầu

giường cho tất cả những ai quan tâm tới tư duy lý luận và tư tưởng phương Tây.

Tóm tắt nội dung

Qua cuốn sách này, J.S. Mill đã đưa ra quan điểm về tự do dân sự (hay tự do xã hội)

là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và tự do cá nhân: Chỉ có phần cư xử của một ai

đó liên quan đến những người khác mới phải vâng theo xã hội, còn anh ta hoàn toàn

tự do trong việc tác động lên riêng cá nhân mình[1].

Theo Mill, một nhánh quan trọng của tự do dân sự là tự do tư tưởng và tự do thảo luận.

Ông đưa ra tiền đề rằng không ai hoàn toàn đúng và mọi ý kiến, tư tưởng đều chỉ đúng

một phần. Do đó, những ý kiến và tư tưởng này chỉ có thông qua con đường thảo

luận tự do mới có thể đi tới hoàn thiện. Và sự phản bác phải được chào đón, thậm

chí còn nồng nhiệt hơn những luận điểm tán thành.

Tác giả viết: “Bất cứ ý kiến nào, nếu chứa đựng chút ít chân lý mà ý kiến chúng bỏ qua,

cũng đều đáng quý, dù có bị pha trộn với bao nhiêu sai sót lầm lẫn đi chăng nữa” và

“Trong tình trạng không hoàn hảo của trí tuệ con người thì sự đa dạng ý kiến là sự

phục vụ lợi ích của chân lý”.[2]

Vì lẽ những con người khác nhau cần những điều kiện khác nhau cho sự phát triển

tinh thần của họ, nên con người cần sự tự do cá nhân để phát huy hết tiềm năng của

mình. Sự tự do cá nhân được giới hạn trong phạm vi những việc chỉ tác động lên

quyền lợi của chính cá nhân anh ta, còn những hành vi vượt ngoài ranh giới ấy phải

bị chính quyền quản lý bằng pháp luật, xã hội gây sức ép bằng công luận[3].

Quyền lực của xã hội đối với sự tự do cá nhân chỉ dừng ở mức hướng dẫn, thuyết

phục và tỏ ý không tán thành, chứ tuyệt nhiên không được tác động trực tiếp tới

cá nhân con người.

Vậy làm cách nào để phân biệt hành vi nào hoàn toàn nằm trong khu vực lợi ích

cá nhân, hành vi nào có liên quan tới những thành viên khác của xã hội? Về vấn đề

này, J.S. Mill viết: “Mặc dù xã hội không được tạo dựng trên cơ sở khế ước, và mặc dù

sự sáng chế ra khế ước để từ đó suy ra các nghĩa vụ cũng chẳng đáp ững được mục đích

tốt đẹp nào, nhưng bất cứ ai nhận được sự bảo trợ của xã hội cũng có bổn phận hoàn

trả lợi ích trở lại, và bản thân sự kiện được sống trong xã hội cũng nói lên điều không

thể thiếu được, rằng mỗi người phải bị ràng buộc tuân thủ theo một đường hướng cư

xử đối với những người khác.

Các cư xử ấy bao gồm, thứ nhất là, không làm hại đến quyền lợi của nhau; hay nói

đúng hơn là những lợi ích nào đó vốn cần phải được coi là quyền dù là căn cứ vào

những quy phạm pháp luật tường minh hay dựa trên sự hiểu biết ngầm; thứ hai là,

mỗi người phải thực hiện bổn phận đóng góp (được xác định trên nguyên lý bình

đẳng nào đó) lao động hay hy sinh để bảo vệ xã hội và các thành viên của nó khỏi bị

xâm hại và quấy rối.

Xã hội được biện minh cho việc ép buộc những điều kiện ấy bằng mọi giá đối với

ai muốn từ chối không chịu thực hiện… Hành vi của một cá nhân có thể gây tổn

thương cho những người khác hay thiếu cân nhắc đối với hạnh phúc của họ, những

chưa đến mức vi phạm pháp quyền đầy đủ của họ. Khi đó người vi phạm bị trừng

phạt đúng lẽ bởi dư luận, tuy không dùng đến luật pháp.”[4].

Bản tiếng Việt

Bàn Về Tự Do là một trong những tác phẩm đầu tiên trong “Tủ sách tinh hoa tri

thức nhân loại” của NXB Tri Thức.

Bản tiếng Việt do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch & chú giải, xuất bản

lần đầu năm 2006.

//  ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||

Bản thân mình, 1-2 tháng gần đây đọc nó 2 lần rồi, có lẽ đọc nó thêm vài lần nữa. =))

Vote 4/5 trên goodread. Có lẽ sau vài lần nữa thì cho em nó 5/5 cũng nên mất.

Mà quên, chúng ta đang tự do ở mức nào ấy nhỉ. =))

P/s: Các bạn có thể share hay lấy link tải ebook thoải mái ạ, giữ nguồn hay không

 cũng tùy bạn *Nhưng mình vẫn mong bạn giữ nguồn tới blog này*. 

Nhưng chỉ xin bạn hãy đọc cuốn sách này. Tập trung và trọn vẹn. 

Thế thôi là một khoảnh khắc nào đó, mình cũng cảm thấy một niềm vui vô hình mà

 thích thú. :3

//^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^

Download:  Ban Ve Tu Do – J.S. Mill – by thongthaidihoc.rar

#Mediafire:

https://www.mediafire.com/?b6yew5rh51eqn8m

#Google Drive (GG):

// Click vào Tệp> Tải xuống.  done!

https://drive.google.com/file/d/0ByU1e3vk4IZ_NVdseDRlVTlIUzA/view?usp=sharing

#4shared:

http://www.4shared.com/rar/F-hPoDAece/Ban_Ve_Tu_Do_-_JS_Mill_-_by_th.html

// OOOOOOOOOOOOOOOOO

Rất nhiều tài liệu bổ ích và lý thú khác tại:

http://tve-4u.org/

Nơi cuối cầu vồng – hangtd

Nơi cuối cầu vồng

một cuốn sách dành cho những người cực kỳ nhiều kiên nhẫn
hoặc…
… đang yêu…

Hươu Ú

Cecelia Ahern là một cái tên chả có tí xi nhê gì với mình trong list các tác giả muốn/thích/cần/tự nhiên có cảm hứng đọc. Kỷ niệm đau đớn của mình là quyển P.S, I love you xôn xao giang hồ mà mình đọc đến trang thứ 70 thì không thể kiên nhẫn hơn được nữa, đành vứt xó.

Và lí do duy nhất để mình bê quyển truyện dày cộp, to ịch này về là vì cái trang bìa đẹp quá đỗi. Và cái tên truyện nữa… chẹp chẹp…

Cái ngưỡng 70 trang của P.S, I love you đã được vượt qua một cách ngoạn mục ngay trong lần đọc đầu tiên. Tiếp tục là 140, 210, 280, 350, 420 đều lần lượt được lật qua – mặc dù không hẳn là hăm hở.

Nơi cuối cầu vồng là một bộ sưu tập các bức thư, bưu thiếp, tin nhắn, email, log chat… của một nhóm các nhân vật xoay quanh hai nhân vật chính là Alex và Rosie: bố, mẹ, anh chị em, những người bạn thân, vợ, chồng, những đứa con, bạn của những đứa con…

Alex và Rosie là hai người bạn “thân nhất của nhau” từ hồi 5 tuổi, lớn lên cùng nhau, chia sẻ với nhau những mốc quan trọng nhất trong cuộc đời thời niên thiếu cho đến lễ thành niên – đúng sự kiện quan trọng cuối cùng để bước sang ngưỡng cửa của người trưởng thành, một sự cố nhỏ xảy ra và họ đã không cùng nhau trải nghiệm sự kiện đó.

Từ đây, cuộc sống của họ bắt đầu chạy trên hai đường thẳng song song, ngó vào cuộc đời nhau bằng những bức thư, bưu thiếp, tin nhắn, email, chatting… như những “những người bạn thân”. Cho đến một lần trong một số lần họ gặp mặt trực tiếp, giữa họ có một “khoảng im lặng kỳ lạ, thế giới như ngừng quay, như thể mọi người xung quanh đều biến mất, như thể mọi thứ đều bị lãng quên hết, sự im lặng kỳ diệu lạ lùng”…

Và họ… mỗi người, đều tự nhận ra rằng họ đã yêu nhau.

Chỉ có điều, sự im lặng kỳ diệu đó diễn ra ngay trước đám cưới của Alex…

Mọi thứ lại đi theo trật tự khập khiễng của nó. Hết lần này đến lần khác, họ cứ suýt đuổi kịp nhau ở một trạm nghỉ chân nào đó trong cuộc đời, suýt nữa dám sống thật với tình cảm của mình…
Và cuối cùng, điều đó chỉ xảy ra where rainbow ends.

Đây không phải là một quyển sách có giọng văn cuốn hút hay những đoạn mô tả nội tâm xuất sắc vì hoàn toàn chẳng có đoạn văn miêu tả nào của tác giả cả. Kết cấu của nó hoàn toàn là lời kể trực tiếp trong những bức thư, bưu thiếp, tin nhắn, email, log chat… của khá nhiều tuyến nhân vật. Cách họ cảm nhận cuộc sống, đối đầu với những khó khăn, vượt qua những giai đoạn u ám bế tắc nhất trong cuộc đời, cách họ cùng nhau chia sẻ những dấu ấn trong cuộc đời, cách họ sống và tận hưởng cuộc sống… tất cả đều được ghi lại rõ nét trong những đoạn viết mà tất cả đều xưng ở ngôi thứ nhất số ít.

Gấp quyển sách lại, dư vị không hẳn là nhiều. Chỉ là một cảm giác nhàn nhạt nhưng dễ chịu với một happy ending muộn đến đáng ngạc nhiên.

Ừ thì chân lý có bao giờ sai đâu. Những người yêu nhau nhất định sẽ đến được với nhau
vấn đề là… bao giờ thôi.

Tóm lại thì cái bìa sách vẫn là đẹp quá đối ấy.

Vẻ đẹp của Toán học – hangtd

Vẻ đẹp của Toán học

Cách đây 4, 5 năm gì đó, trong một trò vui tổ chức trên một forum nhỏ nhỏ của mấy đứa yêu âm nhạc, theo thứ tự đến lượt tôi được phỏng vấn. Trong đó có một câu hỏi: ‘Toán là một môn học logic nên nhiều người cho rằng nó khô khan, thế nhưng toán học được phong là nữ hoàng của các môn học, chị có thể chứng minh điều ấy?’.

Hươu Ú

Đến bây giờ tôi vẫn nhớ là tôi đã gõ câu trả lời chỉ gồm 3 từ tiếng Anh ngay sau khi vừa đọc xong câu hỏi. Đó là một câu trả lời mà tôi nghĩ là sẽ khiến những người yêu mến tôi phải mỉm cười và những người ghét tôi có cơ hội chỉ trỏ: “Đấy, nó hợm hĩnh và ngạo mạn thế đấy!”.
Và như thế có nghĩa nó là một câu trả lời làm hài lòng cả hai phe.

Cho mãi đến sau này, tôi vẫn không nghĩ ra được câu trả lời nào khác khả dĩ hơn, thậm chí ngay cả khi anh phàn nàn với tôi, rằng môn Toán thật chẳng có gì hay ho đẹp đẽ cả. Tôi chẳng biết nói thế nào để anh có thể thấy được vẻ đẹp ẩn chứa trong những con số, những tính chất hình, những định lý, những khái niệm Toán học.

Tôi không biết trả lời thế nào khác cho đến khi đọc Giáo sư và Công thức Toán.

Tôi bị hút vào ngay từ những con chữ cuối cùng ở trang thứ nhất và chiếc bút chì trong tay tôi bắt đầu vạch những nét rất dài và rất đậm ngay từ trang thứ ba.

Câu chuyện kể về một người giúp việc, một ngày kia được giới thiệu đến làm việc cho một giáo sư Toán học già. Ông đã bị một tai nạn nhiều năm về trước và trí nhớ của ông mãi mãi dừng lại ở đó. Từ đó trở đi, ký ức của ông chỉ duy trì được trong 80 phút, chính xác và lạnh lùng như một môn khoa học, không hơn, không kém một giây. Và vì thế, đối với giáo sư, cô giúp việc luôn là một người… mới tinh. Qui trình làm quen rất thú vị và lãng mạn lại lặp lại với câu hỏi về “ngày sinh và cỡ giày”. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi khi cô dẫn cậu con trai của mình đến chơi với giáo sư. Và từ đây, niềm đam mê Toán học ở ông, vẻ đẹp giản dị và cao sang của môn Toán, tình yêu giữa con người với con người đã thay đổi cuộc đời của 3 người họ.

Nếu ai đó cho tôi chọn Yoko Ogawa – tác giả của quyển sách này – đã tốt nghiệp chuyên ngành Toán hay bất kỳ một môn xã hội nào khác, tôi tin chắc 100% rằng tôi sẽ chọn Toán. Bởi vì sẽ thật khó cho một người không học Toán mà lại có thể hiểu và viết về Toán với một triết lý nên thơ đến như thế!

“Đó là một con số cực kỳ ý nhị. Nó không xuất hiện ở những nơi dễ nhận thấy, nhưng lại thực sự tồn tại trong trái tim của mỗi chúng ta và nâng đỡ thế giới bằng đôi bàn tay nhỏ bé của mình”.

“Cháu là Căn. Căn là một ký hiệu toán học rất khoan dung, nó sẵn sàng thu nạp mọi con số vào lòng mình không một chút đắn đo”.

Với sự lồng ghép một cách kỳ công và khéo léo những công thức, khái niệm Toán tưởng chừng rất khô khan vào cuộc sống đời thường có phần ảm đạm của 3 người, Yoko như đã phủ lên đó “một tấm ren rực rỡ của Thượng Đế”. Cuộc sống của cả ba trở nên sống động, tràn ngập ý nghĩa và ấm áp tình yêu thương, những công thức và khái niệm Toán tự nhiên có nhịp điệu và ngân nga như một bài thơ.

“Những con số của giáo sư và những con số của tôi biến thành một dòng chảy uốn lượn không ngừng, giống như đang kết nối những vì tinh tú lấp lánh để vẽ nên các chòm sao giữa khoảng trời đêm. Chúng tôi cứ mải miết đưa mắt đuổi theo cảnh tượng ấy”.

Với một văn phong giản dị nhưng tinh tế và trau chuốt, Yoko đã viết nên một “tiên đề Toán học” bằng văn chương với 3 nhân vật không có tên, để lại một dư vị ấm áp đầy tính nhân văn và thật sự khó quên trong lòng người đọc (bất kể họ là dân tự nhiên hay dân xã hội).

“Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, cái sự thật vĩnh hằng không bao giờ bị lay chuyển bởi vật chất, hiện tượng, tự nhiên hay tình cảm. Toán học có thể giải mã và thể hiện sự thật ấy mà không thứ gì ngăn trở được” .

Và nếu bây giờ có ai đó bảo tôi hãy chứng minh vẻ đẹp của Toán học, tôi sẽ bảo họ tìm đọc quyển Giáo sư và Công thức Toán.

Vài nét về tác giả bài viết:

Một chút mặt trời trong nước lạnh – Hươu Ú.

“Suối nguồn” và con người – hangtd

Suối Nguồn và con người

Chặng đường từ Mộc Châu về Hà Nội mới là những gì thật tuyệt. Xe chạy liên tục quãng sáu bảy chục cây/giờ. Giữa núi rừng bao la hùng vĩ thế này thì cái cảm giác về tốc độ khác rất nhiều so với những con phố bé xinh, đông đúc và chật hẹp. Và khi nhìn thấy những cột thu phát sóng dựng sừng sững trên đỉnh núi, trong đầu mình hiện ra lờ mờ những câu chữ của Suối Nguồn.

Hươu Ú
(Cuốn sách của tôi)

Có lẽ cảm giác đó là đây. Cảm giác của Howard, của Dominique, của Gail khi nhìn những tòa nhà chọc trời thân yêu ở New York là thế này. Thế đấy, những con người bé nhỏ đã kéo theo từng dầm sắt, từng bao xi măng, từng túi đá dăm, bước từng bước trên những dốc núi hiểm trở cheo leo và dựng lên những con đường phẳng lì xẻ ngang núi, những cột thu phát tít mít trên trời xanh, những ngôi nhà nằm vắt vẻo lưng chừng vách… Không phải là choáng váng. Nó là cảm giác bị mê trước sức mạnh của con người.

Cảm giác của mình khi nhìn thấy những cột sóng đó cũng y như những lần mình đứng trên chùa Đồng, đèo Ngoạn Mục, Vạn Lý Trường Thành… Chẳng là gì ghê gớm cả. Chỉ là cảm giác chinh phục. Rồi đầu mình cứ liên tiếp nghĩ về những nhân vật trong Suối Nguồn. Bất kể họ là ai, họ đều có niềm tin mãnh liệt vào những gì họ làm. Howard và Dominique, đó là những người không tưởng. Mình không thể tin rằng có những tính cách mạnh đến như vậy tồn tại trong cuộc đời xô bồ này. Cảm giác về bản thân của họ cứng và rắn đến mức đơn giản. Nghĩa là họ tin là mình đúng, và thế là họ chỉ làm những gì họ cho là đúng và không làm những gì họ cho là không đúng. Bất kể họ đang đi ngược lại cơn bão của cả một thời đại. Họ tin và chờ đợi cơ hội để làm được những gì mình mong muốn cho dù bị cuộc đời vùi dập xuống tận đáy tầng nào trong thế giới này.

Tình yêu của Howard và Dominique cũng là một tình yêu không tưởng như hai con người ấy. Nó không phải là một yếu tố chính cấu thành nên câu chuyện, nó chỉ là một trong số những mắt xích liên kết các tuyến nhân vật, tạo ra tình huống và khắc sắc hơn cá tính của mỗi người. Hai con người hoàn toàn độc lập có thể thấu hiểu và tin tưởng nhau đến nhường ấy ư?

Nhân vật đáng thương nhất trong truyện có lẽ là Peter. Một người có tài ở mức nào đó, tham vọng ở mức nào đó, khôn ngoan ở mức nào đó, chính trực ở mức nào đó… Nhưng bi kịch của anh ta là ở chỗ anh ta biết đâu là đúng nhưng lại không đủ tự tin để đi theo cái sự đúng đó. Anh ta biết mình sai nhưng không thể thoát ra khỏi những cái sai này. Và rồi cuối cùng rối tung trong một mớ những cám dỗ, vinh hoa, danh vọng, thất bại, phù phiếm. Anh ta không còn biết mình đang ở đâu và mình từng-là những gì trong quãng thời gian tồn tại của mình.

Nhân vật tài năng nhất, theo đánh giá của mình là Elsworth. Ông ta biết đâu là đúng, đâu là sai. Và ông ta chọn làm theo cái sai để biến tất cả những người xung quanh cùng sai theo mình. Cái ông ta tin không phải là sự đúng/sai, không phải là chân lý mà ông ta tin vào cách thức tiến hành cuộc chiến của mình – cũng có nghĩa là ông ta tin vào khả năng của bản thân mình. Niềm tin của ông ta đủ mạnh để làm được cuộc chinh phục đó. Và quả thực, ông ta đã thành công.

Nhân vật ưa thích nhất của mình, đương nhiên là Gail. Một con người rất đời, rất thực. Ông ấy có một phần chính trực của Howard, một phần nhu nhược của Peter và một phần tham vọng nào đó của Elsworth – nhưng không đủ chính trực như Howard, không đủ nhu nhược như Peter và càng không có sự giảo quyệt của Elsworth. Ông ấy là một-con-người-giống-bình-thường nhất trong số các nhân vật của truyện. Ông ấy theo đuổi cái đúng theo cách của mình, bảo vệ chân lý đến gần như tận cùng. Nhưng cũng như đa số con người, ông ấy có niềm tin – phải nói là cô vùng mạnh mẽ, nhưng khi niềm tin đó bị vùi dập đến đáy cùng thì người ta sẽ không đủ mạnh mẽ hoặc quá mỏi mệt và phải nhượng bộ. Ông ấy rất con người. Và cái sự cô đơn của ông ấy cũng rất con người.

Những nhân vật khác trong Suối Nguồn, Holcombe, Alvah, Guy Francon, Gordon Prescott… cũng chẳng ai được quyền đánh giá là tuyến phản diện. Họ tin vào thẩm mỹ kiến trúc của họ và họ phang thẳng những kẻ nào khác mình và ngáng trở mình. Họ cũng chỉ đơn giản đi theo niềm tin của họ mà thôi. Cái thẩm mỹ kiến trúc được cài vào tác phẩm chỉ mang tính tượng trưng. Bởi vì cũng như bao nhiêu lĩnh vực khác trong cuộc sống này: văn thơ, âm nhạc, hội họa hay nghệ thuật nói chung… những đánh giá tốt/xấu hoàn toàn chỉ mang tính cá nhân, biết lấy cái gì ra mà làm chuẩn mực cho tất thảy?

Những cá nhân nào không có sự thẩm định của chính mình thì họ sẽ a dua theo trào lưu của xã hội. Và những người như Elsworth, biết cách định hướng dư luận sẽ nắm trong tay sức mạnh cuối cùng của số đông. Nhưng bản thân ông ta cũng sẽ là người hiểu hơn ai hết sự trống rỗng và vô nghĩa của quyền lực là gì…

… Nhưng mình vẫn may mắn hơn Howard hay Dominique hay Gail vì khi đứng trước biển, mình vẫn thích cảm giác thấy mình thật bé nhỏ và tầm thường.
Người ta cần có những nơi để khiêm nhường như thế.

Vài nét về tác giả bài viết:

Một chút mặt trời trong nước lạnh – Hươu Ú.

Phải đọc ‘Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm’ – hangtd

Phải đọc ‘Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm’

Mình vừa đọc xong một cuốn sách tuyệt vời. Cuốn sách được đánh số thứ tự các chương là: 2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, 19, 23, 29, 31, 37, 41, 43, 47… 229, 233.

Tác giả: Mark Haddon
Lĩnh vực: Văn học nước ngoài
Dịch giả: Phạm Văn
Năm xuất bản: 2007 – Nhà xuất bản: Văn học
Số trang: 269 – Giá sách: 38.000 VND

Nó tuyệt đến mức mình đã đọc liền tù tì từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng, gần 300 trang với tốc độ siêu chậm vì đây là cuốn sách không-thể-đọc-nhanh.

Nó tuyệt đến mức mà khi gấp những trang cuối cùng lại, điều mình mong muốn duy nhất là typing một chút gì đó để ghi nhớ rằng đã rất lâu rồi, lâu lắm lắm rồi mình mới lại xúc động đến thế khi đọc một quyển sách.

Trời đang mưa. Mình ghét trời mưa ảm đạm và thích mưa to – như là lúc này. Không hiểu lắm vì sao nhưng cảm giác ngồi trong nhà và lắng nghe tiếng mưa rơi rào rạt ngoài cửa luôn cho mình một cảm giác dễ chịu. Ỉn Tồ ghét trời mưa, bất kể nhỏ hay to. Khi mưa to thì nó thường ở trạng thái bất an, đôi khi là hoảng loạn, vì nó không hiểu chuyện gì đang xảy ra quá đỗi ồn ào ngoài kia.

Cậu bé trong truyện cũng vậy. Nó không thích ứng được với những gì thay đổi bất thường, những gì lạ, những gì nó không hiểu nguồn gốc hoặc cơ chế hoặc thứ tự…

Nó là một đứa bé bị tự kỷ, rối loạn hành vi…

Có rất nhiều lời bình luận dành cho cuốn sách bestseller này. Đa số đều nói là hài hước, dí dỏm, thú vị và abc…
Mình chẳng thấy có gì hài hước cả.

Đây không phải là một cuốn sách hay, hiểu theo nghĩa văn chương chuẩn mực, miêu tả sinh động, ngôn ngữ phong phú hoặc bất kỳ câu cảm thán nào mà mình từng dùng để ca tụng những quyển sách khác.

Nó thực sự không dễ đọc. Vì ngoài chuyện nó được viết với lời kể ở ngôi thứ nhất, nghĩa là theo logic suy nghĩ của một đứa trẻ bất bình thường. Nó còn thêm vào đố một lô xích xông những con số, công thức Toán, logic Toán, hiện tượng Vật lý, kiến thức về thiên văn, sinh học, tư duy hình ảnh, xác suất, sơ đồ cây…

Nhưng quyển sách này thật sự rất lạ. Nó mô tả sự vận hành của đầu óc con người một cách đầy khoa học, chính xác nhưng thấm đẫm tính nhân văn. Vừa giống như một công trình nghiên cứu khoa học tỉ mỉ và logic, vừa giống như một câu chuyện sâu sắc và tình cảm. Nó hé lộ ra cả một khoảng không về tư duy và suy nghĩ của những em bé bị tự kỷ – vốn dĩ không bao giờ biết chia sẻ.

Câu chuyện kể về một quãng thời gian không dài trong cuộc đời của một cậu bé đặc biệt. Nghĩa là cậu ấy thuộc các số nguyên tố cho tới 7057, biết tên tất cả các nước cùng thủ đô của chúng, giết thời giờ bằng cách tính nhẩm những số cực lớn hoặc các phương trình bậc hai hệ số to khủng khiếp và lẻ toẹt… nhưng lại không bao giờ hiểu được xúc cảm của người khác, không biết thể hiện cảm xúc của mình ngoài trạng thái rên rỉ, la hét, đập phá hoặc im lặng chúi đầu vào một góc kín mít, bỏ ăn, bỏ ngủ… chỉ cảm thấy an toàn trong những gì có thể được thiết lập công thức…

Một cuốn sách đặc biệt hấp dẫn với những ai ưa thích Toán học, ưa thích tư duy logic, ưa thích các môn khoa học tự nhiên.

Nhưng nếu như bỏ qua tất cả những chi tiết chính xác chi li đó vì bạn hoàn toàn không có hứng thú với số nguyên tố, với việc tính nhẩm 251.864, với các số chính phương, với lũy thừa 15 của hai, với lập phương của các số lên đến 4913, với việc giải nhẩm các phương trình bậc hai như là 437x^2 + 103x +11 =0, hay đọc vanh vách chòm sao nào được tạo bởi những ngôi sao gì, hay chuỗi sơ đồ khối, hoặc những thứ hầm bà lằng khác làm đầu bạn bốc khói thì…

…có thể nó vẫn làm cho bạn bàng hoàng và xúc động thẳm sâu và xót xa khi nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống dưới một góc nhìn rất khác – khi ta có thể chấp nhận những sự khác biệt trong thế giới này dưới ngòi bút uyên bác, tài năng và trung thực đến đau đớn của Mark Haddon.

“Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm” thật sự là một cuốn sách đáng đọc, một cách thật chậm rãi và thong thả để đừng vì chút thiếu kiên nhẫn với những kiến thức mình không thích mà bỏ qua cả một khoảng không tư duy và tình cảm ẩn chứa đằng sau.

P.S: Nếu bạn không tìm ra được quy luật của dãy số được dùng để đánh số thứ tự các chương của cuốn sách thì bạn vẫn có thể hạnh phúc bởi vì bạn hiểu ý nghĩa của những icon này:

03-107986-1368182304_500x0.gif

15-378650-1368182305_500x0.gif

49-657619-1368182305_500x0.gif

11-756572-1368182305_500x0.gif

… còn nhân vật nói về những kiến thức kinh khủng trong cuốn sách này thì không. Vì nó là một đứa trẻ tự kỷ, rối loạn hành vi.

Hươu Ú

Vị đắng của trải nghiệm… – hangtd

Vị đắng của trải nghiệm…

Trà là thức uống ‘khổ tận cam lai’, có nếm trải vị đắng thì mới thấm thía vị ngọt sau này. Có lẽ vì thế nó mới được nâng lên tầm trà đạo chứ không phải café đạo, coca đạo, nước mía đạo, nước ngô đạo, trà sữa đạo, smoothies đạo…

Hươu Ú

Trà đạo, thường chỉ dùng trong khuôn khổ một số loại trà cổ truyền. Ở Việt Nam, có lẽ chưa thể gọi là trà đạo, nhưng khi pha một ấm trà cũng phải có cung cách riêng của nó.

Đầu tiên là bộ ấm chén – không thể dùng loại sứ trắng tinh, long lanh, to oạch của Minh Long, chén to như uống lipton… nhìn chén trà đã mất hết cả tinh tế. Thường thì sẽ là những bộ ấm chén xinh xinh và bình dị của Bát Tràng, của gốm sứ Hải Dương hoặc Quảng Ninh. Nhưng hợp nhất vẫn là Bát Tràng. Loại có một ấm và các chén-không-quai đặt chung trong một chiếc đĩa, hoa văn vẽ bằng men xanh hoặc cả bộ mang một màu nâu đất nồng ấm.

Việc đầu tiên khi pha trà là phải có một phích nước thật nóng. Ngày xưa cầu kỳ thì nước pha trà phải là nước của trời – nước mưa, bây giờ thì chắc sợ mưa axit nên chả dại cầu kỳ nữa.

Có phích nước nóng rồi thì sẽ tráng ấm trà trước. Nước tráng ấm lại rót trả lại các chén, nhưng không được đổ đi, giữ nguyên nước nóng trong chén để chén không bị nguội.

Cho trà vào ấm. Đây cũng là vấn đề quyết định xem liệu mình có được một ấm trà ngon hay không. Có rất nhiều loại trà. Mỗi loại trà lại có thể được ướp với rất nhiều loại hương khác nhau: sen, nhài, ngâu, sói… trong đó trà sen là loại trân quý nhất và cũng được ướp cầu kỳ nhất. Nhưng em thích nhất là trà mộc, nghĩa là không ướp với bất kỳ hương gì.

Trà cho vào ấm với lượng vừa đủ rồi, lại phải tráng trà bằng một lượt nước sôi nữa. Lại tiếp tục dùng nước này để tráng lại chén lần nữa. Rồi sau đó mới chuyên tiếp một ít nước sôi vào ấm trà, một ít thôi nhé.

Trong khi chờ trà ngấm, cánh trà xòe bung ra, sẽ là lúc nhẩn nha dăm ba câu chuyện. Rồi sau đó, chậm rãi tráng qua một lượt các chén.

Lúc này mới chuyên thêm nước sôi cho vừa đủ vào ấm trà.

Trà rót trong ấm ra không bao giờ rót đầy chén ngay một lượt mà bao giờ cũng chỉ rót lưng chừng. Rót hết một vòng các chén, lại quay lại rót nốt cho vừa. Rót như thế mới tránh làm cho các chén đặc loãng, khác nhau, vì khoảng thời gian rót vòng cũng đủ để trà ngấm hơn một chút.

Thưởng thức trà hơi giống như thưởng thức rượu vang. Đầu tiên là ngắm nghía màu sắc của nước trà. Nước trà trong, sắc xanh là một trong những yếu tố hứa hẹn một chén trà ngon. Người ta không uống ngay mà đưa chén trà lướt nhẹ qua mũi, để hơi nước ẩm nóng mang theo hương trà động vào khứu giác, chạm vào một vùng cảm xúc cũ kỹ và bình yên. Những người sành uống trà có thể đoán biết được chén trà ngon hay không ngay ở lúc này và có thể trên môi họ sẽ thoảng một nụ cười nửa miệng mơ hồ.

Nhấp một ngụm trà vào miệng, lưu lại vị đắng trong miệng, rồi sau đó sẽ là vị chát. Nhưng kì lạ, dư vị cuối cùng lại là vị ngọt thanh lan tỏa nơi cổ họng.

Thưởng trà là thế, phải có chát chúa mới có ngọt ngào.
Phải bình thản qua được hết vị đắng chát mới thấm thía dư vị ngọt thanh cuối cùng.

Chẳng phải vô cớ mà vị đắng của café và được gọi là vị đắng của đau khổ. Nó là vị của lãng quên.
Còn vị đắng của trà là vị đắng của sự trải nghiệm. Nó là vị của ghi nhớ.

Bởi vì phải bình thản đi qua những đắng chát, mới thấm thía hết dư vị ngọt thanh cuối cùng.
Bởi vì bất chấp vị đắng chát, vẫn còn thấy ngọt thanh mới có nghĩa là đáng để ghi nhớ.

Vài nét về blogger:

2744216201868347395n-203500-1368182514_5Một chút mặt trời trong nước lạnh – Hươu Ú.

Hà Nội lạnh… – hangtd

Hà Nội lạnh…

Tối trăng tròn trời bớt phần oi bức. Áo cộc tay, quần ngố hoặc short, super short, mini-váy… đều chấp nhận được trong một đội hình lổn nhổn. Vậy mà chỉ qua một đêm mưa, hôm sau, phố đã mang một khuôn mặt khác.

Hươu Ú

Con người ta dù có dễ đổi lòng bao nhiêu cũng chẳng thể chớp nhoáng được như khuôn-mặt-phố.

Hà Nội – một buổi sáng nửa sau tháng Chín, lạnh và hiền hòa. Không khí mát mẻ nhưng không phải cái sạch tinh của thời điểm sau cơn mưa. Nó không có cái tươi mới ấy mà là một hơi thở cũ kỹ, của tầm này năm ngoái, năm kia, năm năm trước hay có thể mười năm hoặc cả thế kỷ trước. Mà có lẽ không hẳn. Hình như năm ngoái, cơn gió đầu mùa không đến sớm thế. Cái kí ức nhập nhèm của ngày này năm ngoái thực sự không phải là một thứ nên nhớ lại để phá hỏng buổi sáng hứa hẹn sẽ đẹp này. 

Trời không trong. Những đám mây xám ẩm tô một sắc trầm và lặng cho phố. Chưa thể gọi là lạnh, chỉ là một chút se se, dễ chịu và nao lòng. Lất phất có vài hạt mưa. Thời tiết này mà đi lang thang, cứ lang thang lê la không cần đích đến thế thôi là tuyệt lắm.

6h30 phút, tan làm. Trời đã tối sập. Cái tối đen của mùa lạnh khác hẳn với những đêm hè trong sáng. Những bóng đèn xe vẫn hối hả loang loáng xuôi ngược trên phố nhưng có cái gì đó đằm xuống, rất sâu. Đã hết mưa từ lâu nhưng trời vẫn nhiều mây, chỉ hé ra quầng sáng mỏng duy nhất của trăng vẫn đang tròn. Lạnh run người. Chiếc áo cộc tay không đủ để ngăn được luồng không khí lạnh đang luồn vào từng ngóc ngách của cuộc sống. Có ai ngờ được là sẽ rét nhanh đến thế đâu.

Đường ven hồ một tối ít trăng – không sao – và rất nhiều gió lạnh. Xe chạy rề rề. Đã hăm hở lôi ra chiếc áo len mỏng mà vẫn lạnh. Chà, thật là dễ chịu. Mà sao không gian rộng thênh thang đến thế này lại toàn trồng liễu mà không xen vào một, hai cây hoa sữa nhỉ? Vừa dứt lời một quãng thì một làn hương thoảng đến. Giật mình ngó quanh mà không tìm thấy một cây nào. Có lẽ nằm đâu đó sâu trong ngõ. (chậc, thế thì cả khu dân cư đó chết ngắc mùa này rồi).

Đi thêm một quãng nữa là mùi hoàng lan.
Rồi lại hoa sữa.
Rồi không-gì-cả.
Rồi mùa thu.

Tầng 3, quán café nhỏ trong một con phố nhỏ. Ánh đèn vàng. Ban công nhỏ. Bàn ghế nhỏ (và xấu) chỉ vừa đủ những thứ cơ bản nhất. Cột điện với những búi dây nhằng nhịt đến phát sợ. Tiếng người gọi gửi xe ơi ới dưới đường. Tiếng xe máy. Tiếng cười nói lao xao của mấy hàng ăn tối bên kia đường. Cái lạnh dễ làm người ta thèm café dù có thể sẽ mất ngủ. Chậc, kệ đi. Trước nay có mấy khi mất ngủ vì trà hay café đâu. Cái không khí cũ kỹ này không bao giờ có thể tìm được thấy ở những quán café mở sau năm 90 thế kỷ trước. Những ô cửa sổ rộng sáng choang, những ghế to đệm êm, những điều hòa ro ro, những đèn trang trí vừa đủ độ sáng để không thể đọc được gì… Tưởng tượng đặt một quán café như thế trong cái không khí này, tự thấy cọc cạch đến không thể thương nổi.

Rất lâu rồi mới gọi một tách café trong một quán café. Quên mất cách uống thành ra tách café đặc mà lại ngọt quá…

Bước ra khỏi quán vẫn chỉ có lơ lửng một quầng sáng nhạt của mặt trăng đang ở đâu đó trên kia.

Và cuối cùng thì tách café cũng phát huy tác dụng. Mình đã đuối đến mức bị café tác động đến thần kinh rồi. Tự nhiên lại nhớ cái lạnh của Montpellier những ngày đầu tiên mới sang. Sau khi đưa chị T và chị P về. Đêm đã rất đen. Trời vẫn còn lạnh dù theo lịch đã là những ngày đầu tiên của mùa hè. Mở cửa ô tô cho gió ùa vào rối tung và co ro một chút. Đêm thăm thẳm. HS cười và kể: “Đi xe đoạn này phải cẩn thận lắm vì đôi khi có một bạn hươu nào đấy hứng chí sẽ nhảy ngang qua đường. H nhìn kỹ hai bên đường ấy, có thể sẽ nhìn thấy bọn sóc hay bọn nhím chạy lách chách đấy”. Và mình dù cố căng mắt ra thì vẫn chỉ thấy đêm đen mịt mùng giăng ngoài những vùng đèn pha quét đến. Lúc ấy, đã rất nhớ cảm giác đi dạo lúc 3h đêm một ngày tháng Chín năm trước.

Để status là Hà Nội lạnh và thấy bao nhiêu người xa và yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội biết bao nhiêu…
Chẳng ai ngờ rằng một ngày thu, Hà Nội lại nhớ Montpellier đến thế…

Hóa ra, như atesca nói (hoặc trích từ đâu đó): “Có những thời điểm, hoặc thời gian trong cuộc đời chỉ dành để thu thập càng nhiều trải nghiệm cảm xúc, càng nhiều kỉ niệm càng tốt, và cho dù kỉ niệm hay kí ức có cay đắng hay ngọt ngào, phần còn lại của cuộc đời sẽ dựa vào những trải nghiệm và kỉ niệm đó mà sống.”

Vài nét về blogger:

4913316201868343183n-972538-1368147722_5Một chút mặt trời trong nước lạnh – Hươu Ú.