Không ai… vô can (II).

Người “sản xuất văn hóa”, người “phê bình văn hóa” và người “tiêu thụ văn hóa”.

<>

…đọc tiếp ở đây nhé:

http://tuanvietnam.net/2012-08-20-khong-ai-vo-can-ii-

Đọc thêm về bài trên:

Văn hóa “xuống cấp”- vì đâu (I)?

http://tuanvietnam.net/2012-08-17-van-hoa-xuong-cap-vi-dau-i-

…Có những giờ phút, chúng ta có những hành động thiếu, không văn hóa.

Advertisements

NGỢI CA ĐỒNG TIỀN!

NGỢI CA ĐỒNG TIỀN!

Ngợi ca! Không thể như thế được. Loài người chỉ ngợi ca những giá trị mang tính nhân văn, nhân tính, phải có giá trị về tinh thần bởi phải có ích lâu dài cho con người, cho xã hội và nhân loại như tình yêu, sự dũng cảm, yêu lao động, khát vọng, sáng tạo… 

Tự thân, tiền bạc là vô giá trị, trung tính. Người ta cứ hiểu nhầm cứ có nhiều tiền là có lợi nhiều. Nó phải do người dùng nó biết kết hợp tiền với các giá trị khác để đem lại lợi ích hay tác hại, từ đó mới đánh giá được là tốt hay xấu.Thế nên với kẻ xấu, kẻ thiếu hiểu biết về cách tiêu tiền, thì càng nhiều tiền càng có hại, càng tha hóa và lôi kéo nhiều kẻ tha hóa. Còn với một người tốt, giàu nhân nghĩa, có nhiều mong ước tốt đẹp cho người khác và bản thân, đồng tiền dùng đúng mục đích và đem lại giá trị nhân văn, nhân tính, cứu giúp con người giải quyết khó khăn, đạt được thịnh vượng chung.

Nhưng mặt trái của đồng tiền mới thực là vô cùng ghê gớm hơn mức độ tha hóa, phá hủy lương tâm một người, cả một lớp trẻ đang háo hức cho tương lai. Nó có thể xóa sổ một giá trị tốt đẹp như tình yêu đã tưởng như vững chắc, làm biến dạng một người có ích dù là trụ cột một gia đình, một tổ chức, làm họ trở nên có hại, làm xã hội đảo điên, biến dạng cả một tổ chức tiên tiến, cách mạng thành phản động và hấp hối. Vậy thì ngợi ca tiền bạc khác nào ngợi ca vũ khí, ngợi ca súng đạn, ngợi ca PMU18, ngợi ca Vinashin…

Bạn cầm trên tay đồng tiền hay tờ tiền, nhưng liệu bạn đã làm chủ thực sự nó chưa? Trong quá khứ, chúng ta và cả xã hội đã từng ấu trí về đồng tiền như thế này: có nhiều tiền là có tội, là phải lên án, nguyền rủa…>> hãy xem: Tại sao bọn chúng sống phè phỡn thế?

Vì vậy, bài viết sẽ không nói về một trường ca tiền bạc, bài ca tiền bạc… nào mà chỉ ôn lại chuyện Tiền bạc qua một số bài thơ, một số hình ảnh đồng tiền giấy của Việt Nam.

Hy vọng qua bài viết này, một cách đơn giản và ít tốn thời gian, rất mong các bạn nhìn thấy những biểu hiện thật đa dạng của đồng tiền và những hệ quả sau nó.

Làm sao đây?Làm sao kiếm được nhiều tiền ?
Làm sao kiếm được tên miền (domain) thật ngon ?
Làm sao giấc ngủ cho tròn ?
Làm sao khi chết vẫn còn lưu danh ?
Làm sao để tiền bóng banh ?
Làm sao để nó nhanh nhanh sinh lời ?
Làm sao sống giữa cuộc đời ?
Làm sao sống được chơi bời xa hoa ?
Làm sao cứ mãi trêu hoa ?
Làm sao biết được người ta yêu mình?
Làm sao biết cách tỏ tình ?
Làm sao biết được rằng mình đang yêu?

Vô địch?

Tiền là tiên là Phật
Là sức bật của lò xo
Là thước đo của lòng người
Là tiếng cười của tuổi trẻ
Là sức khỏe của tuổi già
Là cái đà của danh vọng
Là cái lọng để che thân
Là cán cân của công lý
Là triết lý của cuộc đời
Về tiền 

Xưa nay ai cũng nói đến tiền
Là vàng, là bạc, cũng là tiên
Đồng tiền đem đến bao ân oán
Bao chuyện phiền nhiêu sẽ đến liền
Có tiền cũng bực, không tiền cáu
Biết làm sao hỡi các bạn hiền

Tiền là ham muốn của nhân gian
Làm bao kẻ đảo điên vì tiền
Nó đâu có phải là nàng tiên
Mà sao sức mạnh hơn tiên giáng trần
Ca dao

Tiền trao cháo múc
Không tiền cháo trút lại mau
Tin nhau buôn bán cùng nhau
Thiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lời
Hay gì lừa đảo kiếm lời
Một nhà ăn uống, tội trời riêng mang
Theo chi những thói gian tham
Phôi pha thực giả tìm đường dối nhau
Của phi nghĩa có giàu đâu
Ở cho ngay thật giàu sau mới bền

Trong tay chẳng có một đồng
Miệng nói như rồng cũng chẳng ai nghe
Vai mang túi bạc kè kè
Nói quấy nói quá người nghe ầm ầm

Có tiền vợ vợ chồng chồng
Không tiền chồng Đông vợ Đoài

Giàu sang lắm kẻ tới nhà
Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau

Đồng tiền không phấn không hồ
Mà sao khéo điểm khéo tô mặt người

Chơi đề

Đêm qua tớ ngủ nằm mê
Đánh con 36 nó lại về 63
Sáng nay tớ mới chạy ra
Nhà cái để đánh con 63 mười ngàn
Tối về không biết trách than
Mười ngàn của tớ tan tành khói mây

Bây giờ tớ vẫn ngồi đây
Tiếc con 36 hôm nay lại về
Thương thay cái số lô đề
Đánh con nọ nó lại về con kia

Nhiều lần tớ phải thức khuya
Nghiên cứu kết quả để tia con đề
Đánh đề là phải ra đê
Nhưng sao tớ lại cứ mê đêm ngày
Biết đâu tớ lại gặp may
Trời cho mấy điểm cầm tay đẫy đà

Tay cầm năm chục trên tay
Ngẫm đi ngẫm lại hôm nay đánh gì
Thuốc lào liên khúc mấy bi
Thơ tay nghiền ngẫm biết ghi con nào

Hôm nay chắc chắn đầu cao
Chắc con 99 sẽ vào lô rơi
Chắp tay khấn vái ông trời
Hôm nay được số cả đời ấm no
Xong rồi vẫn thấy lo lo
Vì nay ta cốp vố to một lần

Đánh xong vẫn cứ phân vân
Tối về tẩn ngẩn tần ngần chờ tin
Nghĩ là chắc được như zin
Khi có kết quả 90 to đùng

Giờ đây như kẻ điên khùng
Mắt thì trợn ngược, mồm phùng to ra
Hôm nay trời lại phạt ta
Ngày mai ta phải bán nhà đi chơi
Thơ tiền…!

Ngồi buồn tự hỏi thế gian
Đồng tiền sức mạnh vô vàn phải chăng?
Cuộc sống đang rất thăng bằng
Vì tiền xáo trộn lăng nhăng hết rồi

Mới có vài tháng đây thôi
Giá cả lên xuống đứng ngồi không yên
Đồng tiên lạm phát triền miên
Không theo quy luật tự nhiên nữa rồi

Giá vàng nhảy vọt liên hồi
Giá xăng được thế đồng thời cũng lên
Lương thì bò chậm như sên
Công nhân viên chức ngồi rên “Thiếu tiền”

Mong rằng chính sách ưu tiên
Đem lại cuộc sống bình yên mọi nhà…

Tiền đâu phải là tất cả 
(Trần Vân Sơn, Trà Vinh)

Nghiên cứu tiền mới biết đến tiền
Không phải tiền như tiên mình nghĩ
Đô la Mỹ cũng như Việt nam đồng
Nó chỉ là một tờ giấy không

Trông chờ nó cuộc đời sẽ khổ
Để cho nó công cụ tuyệt vời
Là làm phương tiện trong cuộc sống
Tống suy nghĩ tiền là tất cả

Mà nó là vất vả làm ra
Để cho ta thấy được hạnh phúc
Lúc được ở bên cạnh gia đình
Tình anh em, cha mẹ, vợ chồng
Chúc Tết 
Thơ Tú Xương

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.

Thằng Bờm tân thời

Thằng Bờm có cái quạt mo
Quan tham xin đổi ô-tô Cam-rì
Bờm rằng chẳng thích Cam-rì
Đường xe kẹt cứng làm gì thoát ra?

Quan tham tiếp tục lân la
Hỏi Bờm xin đổi vi-la mặt tiền
Bờm rằng không lấy mặt tiền
Mai sau quy hoạch mặt tiền cũng bay

Nên Bờm đành phải xua tay…
Quan tham đề nghị đổi ngay chức quyền
Bờm rằng chẳng thích chức quyền
Tham ô, hối lộ đi liền nhà giam

Bờm liền nói thẳng: “Hổng tham”
Quan tham nóng mặt: “Mày tham cái gì?”
Thằng Bờm chỉ biết cười khì:
“Cái tâm, cái đức có thì đổi ngay”

Quan tham đành phải… bó tay
Tìm đâu tâm, đức những ngày làm quan?
10 tiêu chuẩn yêu

Một yêu anh có Sen-ko
Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng
Ba yêu nhà cửa đàng hoàng
Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô
Năm yêu không có bà bô
Sáu yêu Văn Điển ông bô sắp về
Bảy yêu anh vững tay nghề
Tám yêu sớm tối đi về có nhau
Chín yêu gạo trắng phau phau
Mười yêu nhiều thịt ít rau hàng ngày.
Tờ tiền

Tiếp với trang 2.

Cơ sở cho niềm tin.

Cơ sở cho niềm tin.

 

Phạm Trần Lê

Khi nói về điều kiện để giúp một quốc gia hùng mạnh, người ta thường hình dung về những yếu tố như tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học công nghệ, hay tiềm lực quân sự. Tuy nhiên, những yếu tố đó sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu con người không tin vào những điều họ theo đuổi.
Một quốc gia hùng mạnh phải bắt đầu từ điều giản dị nhất, đó là người dân có niềm tin mạnh mẽ vào tương lai phía trước. Cụ thể hơn, đó là một sự hình dung sáng sủa về bản thân mình, cộng đồng, và hoàn cảnh đời sống trong tương lai. Đó là điều kiện quan trọng nhất giúp con người có thể yên tâm sống và làm việc mỗi ngày, nỗ lực vượt qua những thử thách mà cuộc sống mang đến.

Niềm hi vọng đến từ đâu?

Sự tuyên truyền một cách hiệu quả của chính quyền có thể đóng một vai trò quan trọng nhất định trong việc tạo dựng niềm hy vọng của dân chúng vào tương lai, nhưng niềm hy vọng đó rốt cục chỉ có thể duy trì dựa vào những căn cứ thực tế mà người dân được trải nghiệm trong quá khứ và hiện tại, qua những kết quả cụ thể trong quá trình phát triển nền kinh tế và xã hội, qua chất lượng môi trường, y tế, giáo dục, và các cơ sở hạ tầng.

Trong bối cảnh giao lưu thông tin toàn cầu thuận tiện như hiện nay, rất khó để các chính phủ che đậy những yếu kém của mình trong các lĩnh vực cơ bản này. Và nếu để những tiêu cực trầm trọng làm ảnh hưởng tới niềm tin của người dân thì quyền lực của các chính phủ sẽ lung lay.

Khi nói về vấn đề ổn định xã hội, người ta thường nói về vấn đề cải thiện thu nhập của người dân, hay tìm giải pháp làm giảm chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn là nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ thành quả lao động của nhân dân.

Tuy nhiên, nhân dân luôn công bằng. Họ không bao giờ đòi hỏi từ các nhà nước những điều phi thực tế. Không phải cứ hễ gặp thách thức khó khăn là họ sẽ mất niềm tin vào tương lai. Lịch sử nước ta không thiếu những bài học về sự đoàn kết một lòng của nhân dân vượt qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, đánh bại những kẻ thù hùng mạnh trên thế giới. Thực tế này cho thấy rằng, nếu những khó khăn là mang tính khách quan, thì dù gặp gian khổ đến đâu, nhân dân vẫn không mất đi niềm vọng, vẫn kiên cường sát cánh cùng chính phủ của mình để nỗ lực tìm cách vượt qua. Đã có không ít những tấm gương dám hy sinh toàn bộ của cải, thậm chí tính mạng vì nghĩa lớn, vì niềm tin vào một tương lai tốt đẹp hơn cho cộng đồng, xã hội, và Tổ quốc.

Niềm hy vọng là bản năng sinh tồn cố hữu trong mỗi con người. Con người không vì nghèo đói hay chênh lệch giàu nghèo, hay những bệnh tật và hiểm nguy mà mất hy vọng.
Để duy trì niềm hy vọng trong nhân dân, các nhà nước chỉ cần đáp ứng những yêu cầu tối thiểu. Đó là làm sao để đa số người dân cảm thấy rằng những nỗ lực của mình trong cuộc sống sẽ đem lại những thành quả nhất định, và những thành quả này sẽ được xã hội và nhà nước tôn trọng, công nhận để có thể tồn tại một cách chắc chắn, và sẽ tiếp tục có cơ hội sinh sôi, phát triển.

Niềm hy vọng quan trọng như thế nào? 

Khi nói về vấn đề ổn định xã hội, người ta thường nói về vấn đề cải thiện thu nhập của người dân, hay tìm giải pháp làm giảm chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo. Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn là nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ thành quả lao động của nhân dân.

Con người sẽ tuyệt vọng nếu biết rằng những nỗ lực mình đang theo đuổi là vô nghĩa. Xã hội sẽ vô cùng bất an khi người dân cảm thấy rằng những thành quả mình làm ra có nguy cơ tan biến hoặc rơi vào tay người khác. Khi nguy cơ ấy đủ lớn, người dân sẽ mất niềm tin.

Ví dụ như những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trên thế giới mà nguyên nhân vốn đều xuất phát từ sự mất lòng tin của người dân, khi họ thấy rằng những khoản tích lũy và đầu tư của mình có nguy cơ tan biến. Và khi những cuộc tháo chạy đồng loạt diễn ra trên thị trường tài chính, những nền kinh tế hùng mạnh nhất đều có khả năng sụp đổ. Kéo theo đó là những cuộc suy thoái trầm trọng kéo dài, hoàn toàn không hẳn vì những yếu kém trong năng lực sản xuất hay trí tuệ của con người, mà vì người dân không còn đủ lòng tin để đầu tư. Họ lo lắng rằng những khoản đầu tư của mình sẽ biến mất trong vòng xoáy đổ vỡ của thị trường. Dù chính phủ các nước tung ra nhiều gói cứu trợ, có nhiều biện pháp tuyên truyền để giữ lòng tin cho nhà đầu tư, nhưng đã qua vài năm nền kinh tế thế giới vẫn chưa thể thấy được những khởi sắc đáng kể. Kinh nghiệm này cho thấy, một khi niềm tin của người dân bị mất đi thì sẽ rất khó, và rất lâu mới khôi phục lại được.

Khi nhìn vào bối cảnh đất nước ta hiện nay, khi tình hình kinh tế vẫn rất nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, xã hội còn nhiều biểu hiện tiêu cực, nạn tham nhũng chưa suy giảm, chúng ta thấy rằng vấn đề giữ vững niềm tin của người dân là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của xã hội cũng như tồn vong của Nhà nước. Niềm tin ấy không phụ thuộc vào cách thức tuyên truyền thông tin từ phía Nhà nước, mà phụ thuộc vào những điều Nhà nước làm được trong thực tế.

Những cuộc suy thoái trầm trọng kéo dài, hoàn toàn không hẳn vì những yếu kém trong năng lực sản xuất hay trí tuệ của con người, mà vì người dân không còn đủ lòng tin để đầu tư. Họ lo lắng rằng những khoản đầu tư của mình sẽ biến mất trong vòng xoáy đổ vỡ của thị trường.

Nhà nước ta luôn khẳng định rằng đất nước sẽ phát triển theo kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là vừa tận dụng được tính hiệu quả của thị trường, vừa đảm bảo được tính công bằng và những giá trị nhân bản trong lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương như vậy là tiến bộ, nhưng để duy trì niềm tin của nhân dân thì nhất thiết phải thông qua những căn cứ cụ thể, mà một trong những căn cứ quan trọng đầu tiên là việc nhà nước xây dựng, thực hiện hiệu quả những cơ sở pháp lý giúp công nhận và bảo vệ thành quả lao động của con người, thể hiện qua quyền sở hữu đối với những tài sản chính đáng của từng người dân.

Có đáp ứng điều kiện cơ bản này chúng ta mới mong nuôi dưỡng niềm hy vọng mạnh mẽ của nhân dân vào tương lai, khuyến khích được những khoản đầu tư mạnh dạn từ xã hội, để không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn cải thiện trình độ khoa học công nghệ, giáo dục, và văn hóa, tạo ra những biến chuyển tiến bộ từ trí tuệ và công sức to lớn của nhân dân.

Đại học để làm gì? ???

Đại học để làm gì?

Giản Tư Trung *


Một bức tượng trong khuôn viên ĐH Montevallo,
bang Alabama, Mỹ

Để “đổi mới” hay “thay đổi” giáo dục đại học thì việc tiên quyết nhất là phải có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về đại học và nền đại học. Nếu nhận thức sai lệch và ấu trĩ thì việc “đổi mới” này sẽ không thể thực hiện được hoặc nếu có thực hiện được đi nữa thì cũng sẽ gây ra những hậu quả tai hại về nhiều mặt.
Hiện nay, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về khái niệm đại học và mục đích của đại học, mỗi góc nhìn đưa ra một cách hiểu về đại học và nền đại học. Việc có được nhiều góc nhìn về cùng một vấn đề như vậy là rất hữu ích bởi nó cho chúng ta cơ hội để hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn đóng góp một góc nhìn để góp phần làm rõ khái niệm đại học và nền đại học ở ít nhất ba điểm cơ bản sau: Vai trò của đại học trong xã hội, sứ mệnh của đại học đối với xã hội, và vị trí của đại học trong xã hội.

Vai trò của đại học trong xã hội?

Có thể có nhiều quan điểm về vai trò của đại học trong xã hội, nhưng tôi cho rằng, nền đại học có hai vai trò quan trọng bậc nhất đó là: (1) Lãnh đạo/Dẫn dắt xã hội về mặt trí tuệ và tư tưởng; (2) Đại diện cho chân lý, công lý và lương tri của loài người.

Tất nhiên, ngay cả trong những xã hội văn minh nhất ở những nước phát triển nhất thì không phải “trường đại học” nào cũng dễ dàng làm được những điều này (chẳng hạn như ở đâu đó trong những xã hội này vẫn có cả những “trường đại học” chỉ chuyên “bán bằng”). Nhưng xét trên bình diện chung thì một “nền đại học” đúng nghĩa phải nắm được và thể hiện được những vai trò đó trong xã hội. “Xã hội” ở đây không chỉ được hiểu là một cộng đồng, một địa phương, một quốc gia, mà còn được hiểu là xã hội toàn cầu.

Sứ mệnh của đại học đối với xã hội?

Để có được và thể hiện được các vai trò trên thì đại học (nhất là những đại học tinh hoa của mỗi quốc gia) cần thực hiện được tối thiểu hai sứ mệnh (còn gọi là trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ, công việc) quan trọng bậc nhất sau đây: (1) Sản xuất/Tạo ra tri thức / Knowledge (chức năng nghiên cứu của đại học); (2) Sản xuất/Tạo ra trí thức / Intellectuals (chức năng đào tạo của đại học). Hiện thực hóa hai sứ mệnh này sẽ phục vụ quan trọng cho mục tiêu phát triển quốc gia và góp phần thay đổi thế giới.

Khái niệm “trí thức” ở đây, theo một định nghĩa ngắn gọn của riêng tác giả, có thể được hiểu là “người có trí và luôn dùng cái trí của mình để góp phần thức tỉnh xã hội nhằm hướng mọi người đến cái đúng và cái đẹp“. (Có thể tham khảo thêm về khái niệm “trí thức” của cùng tác giả ở đây: http://www.ired.edu.vn/vn/DocTin/vai-tro-cua-tri-thuc-hay-trach-nhiem-xa-hoi-cua-nhung-nguoi-hieu-biet)

Như vậy, để có thể được xem là “trí thức” thì bản thân một người trước hết phải là một “chuyên gia chuyên ngành” (nhân lực trình độ cao) trong một hay một số chuyên ngành nào đó, nhưng chỉ riêng một tiêu chí đó sẽ là chưa đủ bởi “trí thức” không chỉ là một người giỏi chuyên môn và làm chuyên môn giỏi mà còn phải luôn nỗ lực thực hiện “trách nhiệm xã hội của người hiểu biết” (dùng chuyên môn và sự hiểu biết của mình để góp phần khai sáng xã hội nhằm hướng mọi người đến cái đúng và cái đẹp, hướng mọi người đến những giá trị phổ quát của loài người). Nói cách khác, những người giỏi chuyên môn mang trong mình “tinh thần đại học” đúng nghĩa sẽ trở thành “những con người trí thức”.

Một trường học sau phổ thông (higher education) chỉ đào tạo ra những người “có nghề” nhưng lại không “tạo ra tri thức mới” hay không “tạo ra trí thức mới” thì khó thể được xem là đại học. Và cũng trong sứ mệnh của mình, đại học đích thực, nhất là những đại học tinh hoa (bất kể công hay tư), cũng là một doanh nghiệp xã hội (phi lợi nhuận) hoạt động vì “mục đích công” và gắn liền với việc theo đuổi chân lý, bảo vệ công lý và đại diện lương tri… Như vậy, sản phẩm của những đại học đúng  nghĩa về cơ bản là “sản phẩm công” (public goods) để phục vụ cho “mục đích công” (public purpose/public use), nên việc dùng “tiền công” (state budget) để tài trợ cho hoạt động của những đại học đích thực (bên cạnh tiền học phí từ học viên, tiền tài trợ khác từ bên ngoài và nguồn thu khác) là cần thiết.

Vị trí của đại học trong xã hội?

Để hiện thực hóa được sứ mệnh của mình, để thực hiện được công việc của mình và thể hiện được vai trò của mình trong xã hội thì vị trí, vị thế của đại học phải như sau: (1) Độc lập với quyền lực (nhất là quyền lực về chính trị, vì trong một xã hội văn minh, về cơ bản, đại học được sinh ra không phải để phục vụ cho mục tiêu chính trị hay để thực hiện các “nhiệm vụ chính trị” của các đảng phái chính trị); (2) Độc lập với tiền bạc (nhà tài trợ Nhà nước, nhà tài trợ tư nhân, nhà tài trợ tổ chức… tài trợ tài chính cho đại học hoạt động nhưng không được phép chi phối hay bóp méo bản chất công việc của đại học; và đồng thời, đại học cũng không được phép để tiền bạc hay quyền lực chi phối hay bóp méo bản chất công việc của mình); (3) Độc lập với tôn giáo (trong một xã hội văn minh, có thể có cả đại học thuộc một tôn giáo nào đó, nhưng xét về tổng thể nền đại học và nền giáo dục, luôn có sự độc lập cần thiết giữa giáo dục, tôn giáo và chính trị).

Chỉ khi đại học có được cả ba vị thế “độc lập” nói trên thì may ra mới có thể có “tự do” (tự do học thuật / tự do đào tạo, tự do nghiên cứu…). Và từ “tự do” thì mới có thể có “tự chủ” (tự chủ về học thuật, tự chủ về nhân sự, tự chủ về tuyển sinh, tự chủ về thu chi…). Hoặc đôi khi cũng có thể nói ngược lại là, phải có “tự chủ” mới có “tự do”. Nhưng tóm lại là, chỉ khi có các tiền đề “độc lập”, “tự do” và “tự chủ” (nhất là về mặt học thuật) như trên, đại học mới có thể phát triển theo đúng cái nghĩa mà thế giới văn minh đang hiểu, còn không thì không có gì để bàn nhiều. Bởi chúng ta sẽ không bao giờ có những trường đại học đúng nghĩa (và một nền đại học đúng nghĩa) nếu chúng ta chỉ cho nó (đại học) một tờ quyết định A4, một con dấu đỏ, một miếng đất rộng, một số tiền lớn và một biển hiệu đẹp (trên đó có dòng chữ “Đại học…” để treo hoành tráng trước cổng trường).
Để có được sự “đúng nghĩa” đó, ngoài những thứ đó ra (giấy phép và tiền bạc), có ít nhất hai thứ quan trọng và thiêng liêng nữa mà chúng ta cần phải trao cho đại học:

(a) Tinh thần đại học: Tinh thần đó là: Khi đại học “ngồi” đúng vị trí (độc lập với quyền lực, tiền bạc và tôn giáo; tự do về học thuật; và tự chủ về hoạt động); thì đại học sẽ thực hiện được đúng sứ mệnh (sản xuất tri thức mới, sản xuất trí thức mới, và sản xuất chuyên gia chuyên ngành); Và khi đó đại học sẽ giữ đúng vai trò (nơi dẫn dắt xã hội về mặt trí tuệ và tư tưởng; nơi đại diện cho chân lý, công lý và lương tri của loài người);

(b) Lãnh đạo đại học: Nhà nước và nhà trường cần có sự hỗ trợ tối đa để những nhà quản trị đại học có tầm (có khả năng thẩm thấu, trung thành, bảo vệ và theo đuổi “tinh thần đại học” nói trên) và có tâm (có khát khao, dám dấn thân nhằm kiến tạo một “nền giáo dục đại học Việt Nam” có khả năng đua tranh với những nền đại học ở các xã hội văn minh) ngồi vào ghế lãnh đạo trường đại học và nền đại học.

Tất nhiên, trước khi trao cho đại học những thứ này thì cũng cần một hành lang pháp lý hữu hiệu nhằm bảo đảm “tinh thần đại học” được phát huy tối đa và đồng thời kiểm soát được những vấn đề phát sinh.

Nếu trường đại học và nền đại học không có được những điều tiên quyết là “tinh thần đại học” và “lãnh đạo đại học” nói trên thì việc “đổi mới căn bản và toàn diện nền đại học” mà chúng ta đang kêu gọi chỉ là một viễn cảnh mù mờ.

Ngược lại, nếu trường đại học và nền đại học có được những điều tiên quyết này thì nhất định các trường đại học và cả nền đại học sẽ cất cánh mạnh mẽ và đất nước cũng sẽ được thăng hoa. Khi đó, các nhà lãnh đạo nền đại học, các nhà lãnh đạo nền giáo dục và các nhà lãnh đạo quốc gia có thể tự hào vì những gì mà mình đã làm để đặt nền móng và khơi nguồn cho công cuộc cải tổ nền đại học nói riêng và cho sự thịnh vượng và văn minh của quốc gia nói chung./.